QUỐC KÌ VIỆT NAM

Bác Hồ kính yêu

Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh

Tài nguyên dạy học

Intel Teach Elements

Ảnh ngẫu nhiên

Baner_Tet_1.swf DONG_CO_4_KY.swf Thiep_moi_sinh_nhat_Thanh_Nghi.swf Vi_do_la_em__thanh.swf Ha_thn.swf Chuc_mung_ngay_Quoc_te_phu_nu_thiep_19.swf Su_dung_BDTD_trong_day_hoc.flv Ytuong1.gif Dong_bang_song_Cuu_Long_gap_nhieu_kho_khan_trong_viec_chong_choi_voi_lu.flv 183947901.gif Vn.png Elements.jpg Biakyyeu.jpg Header1.jpg TRANH_THUY_MAC.swf Dhsp1.jpg Ban_goc_Phan_giai_cao_logo_khoa_dia_li_dh_su_pham_tphcm_from_quangphu1ahto_duoi_png_ko_co_nen.png Bcn_khoa_qua_cac_thoi_ki.jpg Hinh_khoa.jpg

Tìm kiếm Google

Google

Tìm hiểu lịch sử

Bách khoa toàn thư

Ngày này năm xưa

Đất nước mến yêu

TIVI TRỰC TUYẾN

ĐỌC BÁO

THƯ NGỎ

Quý thầy cô và các em học sinh có muốn ghi nhớ trang này để dễ thuận tiện khi truy cập. Điều đó rất đơn giản chỉ cần quý thầy cô Click
vào đây

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Lê Thanh Long)

Liên hệ

Quản trị: Lê Thanh Long
01656604289
( )

Danh ngôn

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với website Tư liệu dạy và học môn Địa lý

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái. Cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh Trường THPT Phạm Văn Sáng quyết tâm học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dânmainbanner_500
    Gốc > Địa lý > Những vấn đề phát triển KT-XH trong các vùng >

    Vùng Đông Nam Bộ

    dongnambo2_500_01  
     
     

    Thông tin chung

    - Vị trí địa lý: Đông Nam Bộ nằm ở phía Đông Bắc của Nam Bộ, phía Bắc và Tây Bắc giáp Campuchia; phía Nam giáp Biển đông, phía Tây, Tây Nam giáp Campuchia và đồng bằng sông Cửu Long; phía Đông và Đông Nam giáp Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ.

    - Diện tích: trên 235.000 km2 (chiếm khoảng 7,2 S toàn quốc).

    - Địa hình: địa hình tương đối bằng phẳng.

    - Đơn vị hành chính: gồm thành phố TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh: Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu .

    - Dân số: khoảng 11.050.000 người (chiếm 13,9% dân số toàn quốc).

    Các lợi thế của Vùng

    - Thế mạnh về vị trí: Đông Nam Bộ có cửa ngõ phía Tây liên hệ với Campuchia và các nước Thái Lan, Malaysia thông qua mạng đường bộ xuyên Á, cửa ngõ phía Đông liên hệ với các nước trên thế giới thông qua hệ thống cảng biển Sài Gòn, Bà Rịa – Vũng Tàu, Thị Vải. Việc hình thành cửa ngõ phía Đông và phía Tây đã tạo lập thành hành lang kinh tế Đông – Tây, nơi diễn ra nhiều hoạt động kinh tế sôi động trong vùng, đồng thời tạo lên sức hút mạnh mẽ đối với các nhà đầu tư nước ngoài tham gia đầu tư vào vùng.

    -Thế mạnh về giao thông: Trước hết, đó là hệ thống các trục giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không khá tốt, ngoài ra còn có đầu mối giao thông, và các tuyến giao thông quan trọng mang ý nghĩa cả nước và quốc tế: sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất (tương lai cả sân bay Long Thành, tỉnh Đồng Nai), cảng Sài Gòn, cụm cảng Vũng Tàu – Thị Vải, đường xuyên Á nối với Cămpuchia, đường sắt Bắc – Nam, quốc lộ 1A, Quốc lộ 51, QL 13, QL 14 nối với Tây Nguyên. Vị trí địa lý thuận lợi này tạo điều kiện thuận lợi cho vùng có thể mở rộng quan hệ kinh tế với các tỉnh Tây Nguyên, các tỉnh Duyên hải Miền Trung trong việc cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm.

    - Thế mạnh về khoáng sản: Đông Nam Bộ có nguồn tài nguyên thiên nhiên lớn nhất và rất quan trọng đối với cả nước là dầu mỏ và khí đốt, tập trung ở vùng biển Bà Rịa - Vũng Tàu; trữ lượng dầu mỏ chiếm khoảng 93,3% trữ lượng dầu đã xác minh của cả nước; trữ lượng khí chiếm 16,2% trữ lượng khí cả nước. Dầu mỏ và khí đốt là những mặt hàng xuất khẩu quan trọng hiện nay và là nguồn nguyên, nhiên liệu cho công nghiệp hóa dầu, công nghiệp điện trong tương lai. Vì vậy, cần được nghiên cứu đầu tư thêm để khai thác mang tính chiến lược của vùng.

    - Thế mạnh về nhân lực: Đông Nam Bộ có lực lượng lao động dồi dào, lao động có trình độ chuyên môn cao so với các vùng khác, có khả năng nắm bắt và vận dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhanh, được đào tạo và nâng cao tay nghề trong quá trình phát triển các khu công nghiệp. Đội ngũ này được sàng lọc, tuyển chọn không chỉ từ nguồn lao động trong vùng mà còn từ các tỉnh lân cận. Lợi thế về nguồn lao động của vùng cũng là một điều kiện hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Trình độ phân công lao động theo lãnh thổ phát triển tương đối cao, trong vùng đã hình thành tương đối rõ các ngành, các vùng sản xuất chuyên môn hóa.

    Thực trạng phát triển kinh tế

    - Tốc độ tăng trưởng : Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm luôn cao hơn mức chung cả nước từ 1,5-2,5 lần, trong đó giai đoạn 1996-2002 đạt 11,6%, cao gấp 1,66 lần. Nói một cách tổng quát, qui mô vùng kinh tế Đông Nam Bộ luôn chiếm 1/3 cả nước về GDP và tổng vốn đầu tư xã hội; riêng thu ngân sách và xuất khẩu thì cao hơn, xấp xỉ 2/3. Cụ thể, năm 2002: vùng kinh tế này đóng góp 34,5% tổng sản phẩm quốc nội, 49,5% GDP công nghiệp, 31,5% GDP dịch vụ, 49% tổng thu ngân sách và khoảng 60% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước; 2003: đạt gần 70.000 tỉ đồng vốn đầu tư xã hội, khoảng 13 tỉ USD kim ngạch xuất khẩu, gần 90.000 tỉ đồng thu ngân sách, hơn 2 tỉ USD vốn FDI và hơn 390.000 chỗ làm mới (so với con số tương ứng của cả nước là 217.000 tỉ đồng đầu tư xã hội, 20 tỉ USD xuất khẩu, 138.000 tỉ đồng thu ngân sách, 3 tỉ USD FDI và 1,52 triệu chỗ làm mới)...

    - Về cơ cấu kinh tế: tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực. Cơ cấu kinh tế của vùng đã chuyển dịch nhanh theo hướng công nghiệp hóa và hướng đến xuất khẩu: so với 1995, tỉ trọng công nghiệp - xây dựng đã tăng từ 46,2% lên 55%, nông nghiệp giảm từ 11,3% xuống còn 7%.

    Định hướng phát triển đến năm 2010 (*)

    - - Một số chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2010:

    Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP cao và bền vững. GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt từ 3.030-3.720 USD. Cơ cấu ngành kinh tế trong GDP đến năm 2010 dự kiến nông, lâm nghiệp và thuỷ sản khoảng 3,6-3,7%, công nghiệp và xây dựng khoảng 60,9-61% và ngành dịch vụ khoảng 35,2-35,6%. Giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng 18%/năm. Phấn đấu mỗi năm giải quyết việc làm mới cho khoảng 45-50 vạn lao động trong độ tuổi.

    - Nhiệm vụ và giải pháp phát triển một số ngành, lĩnh vực:

    - Về nông – lâm - thuỷ sản: Phát triển nền nông nghiệp hàng hoá tập trung, sản phẩm đa dạng, hiệu quả cao, hướng tới một nền nông nghiệp chất lượng cao, sạch, đảm bảo cung cấp ngày càng tốt cho nhu cầu công nghiệp chế biến, tiêu dùng của dân cư đô thị, dân cư các khu công nghiệp và xuất khẩu. Tăng nhanh việc trồng để ổn định rừng phòng hộ ven biển. Bảo vệ diện tích rừng ngập mặn Cần Giờ (TP. Hồ Chí Minh) và ven biển Bà Rịa - Vũng Tàu. Phát triển nuôi tôm thâm canh, nuôi cá nước ngọt ở ở các công trình thủy lợi. Xây dựng trung tâm dịch vụ giống thủy sản, trung tâm thương mại, chế biến thủy sản với công nghệ cao.

    - Về công nghiệp: Tiếp tục đẩy mạnh phát triển một số ngành công nghiệp chủ lực như khai thác dầu khí, điện tử, công nghiệp sản xuất phần mềm; cơ khí chế tạo, sản xuất điện, phân bón, công nghiệp vật liệu xây dựng và các ngành thu hút nhiều lao động ở các tỉnh có trình độ phát triển chưa cao: chế biến nông, lâm, thủy sản như chế biến điều, gạo xuất khẩu, chế biến hải sản và thực phẩm xuất khẩu, công nghiệp thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng dệt may, giầy da, nhựa. Tập trung phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp sạch; điện tử tin học ở thành phố Hồ Chí Minh. Tiếp tục thăm dò tìm kiếm và đưa vào khai thác những mỏ dầu khí mới; phát triển nguồn điện và đường dây tải điện. Khuyến khích đầu tư vào các khu công nghiệp và khu chế xuất, khu công nghệ cao ở thành phố Hồ Chí Minh.

    - Phát triển thương mại dịch vụ du lịch: Hình thành hệ thống các trung tâm thương mại du lịch có quy mô và trình độ ngang tầm với các nước trong khu vực. Cùng với xây dựng thành phố Hồ Chí Minh thành trung tâm du lịch và dịch vụ lớn, tập trung phát triển dịch vụ ở Vũng Tàu, Biên Hòa, Côn Đảo, du lịch sinh thái rừng Cát Tiên. Thương mại biên giới, kinh tế cửa khẩu ở các tỉnh có đường biên giới. Phát triển dịch vụ vận tải biển, dịch vụ bưu chính viễn thông, dịch vụ tài chính ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ dầu khí...

    Chú trọng đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng du lịch, củng cố hệ thống khách sạn đảm bảo tiêu chuẩn quốc tế, phát triển hệ thống các công trình vui chơi, giải trí; tu bổ, tôn tạo các di tích văn hóa lịch sử và phát triển các lễ hội truyền thống phục vụ du lịch. Ngoài các trung tâm du lịch và dịch vụ ở thành phố Hồ Chí Minh, phát triển dịch vụ du lịch ở Vũng Tàu, Côn Đảo, Bình Châu, Bà Đen, chiến khu Đ, Sóc Bom Bo, du lịch sinh thái rừng Cát Tiên (Đồng Nai).

    (Trích: Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010 cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng) http://industrialzone.vn


    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Thanh Long @ 13:36 07/12/2010
    Số lượt xem: 8321
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    bg_mod_21jpg