QUỐC KÌ VIỆT NAM

Bác Hồ kính yêu

Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh

Tài nguyên dạy học

Intel Teach Elements

Ảnh ngẫu nhiên

Baner_Tet_1.swf DONG_CO_4_KY.swf Thiep_moi_sinh_nhat_Thanh_Nghi.swf Vi_do_la_em__thanh.swf Ha_thn.swf Chuc_mung_ngay_Quoc_te_phu_nu_thiep_19.swf Su_dung_BDTD_trong_day_hoc.flv Ytuong1.gif Dong_bang_song_Cuu_Long_gap_nhieu_kho_khan_trong_viec_chong_choi_voi_lu.flv 183947901.gif Vn.png Elements.jpg Biakyyeu.jpg Header1.jpg TRANH_THUY_MAC.swf Dhsp1.jpg Ban_goc_Phan_giai_cao_logo_khoa_dia_li_dh_su_pham_tphcm_from_quangphu1ahto_duoi_png_ko_co_nen.png Bcn_khoa_qua_cac_thoi_ki.jpg Hinh_khoa.jpg T_binh.jpg

Tìm kiếm Google

Google

Tìm hiểu lịch sử

Bách khoa toàn thư

Ngày này năm xưa

Đất nước mến yêu

TIVI TRỰC TUYẾN

ĐỌC BÁO

THƯ NGỎ

Quý thầy cô và các em học sinh có muốn ghi nhớ trang này để dễ thuận tiện khi truy cập. Điều đó rất đơn giản chỉ cần quý thầy cô Click
vào đây

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Lê Thanh Long)

Liên hệ

Quản trị: Lê Thanh Long
01656604289
( )

Danh ngôn

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với website Tư liệu dạy và học môn Địa lý

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái. Cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh Trường THPT Phạm Văn Sáng quyết tâm học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dânmainbanner_500
    Gốc > Địa lý > Chuyên đề >

    2. Atlas địa lí Việt Nam

    Atlas địa lí Việt Nam được xuất bản lần đầu vào năm 1992 do PGS. TS Ngô Đạt Tam, PGS. TS Vũ Tuấn Cảnh, TS. Nguyễn Tiến Dũng chủ biên và những người khác: TS. Lê Huỳnh, PGS. TS Lê Ngọc Nam, PGS. TS Lê Thông, TS. Nguyễn Quý Thao và KS. Nguyễn Cẩm Vân tham gia biên Soạn. Sau 8 lần tái bản Atlas Địa lí Việt Nam được cập nhật, bổ sung nâng cao về mặt chất lượng khoa học, chất lượng in ấn và mĩ thuật.Atlas địa lí Việt Nam tái bản lần thứ 8 có sửa chữa và chỉnh lí vào tháng 4 năm 2004, do PGS.TS Ngô Đạt Tam, TS. Nguyễn Quý Thao chủ biên và PGS.TS Lê Huỳnh, GS.TS Lê Thông, GS.TS KH Phan Văn Quýnh, PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ, PGS.TS Đặng Duy Lợi, ThS. Nguyễn Hồng Loan, KS. Lê Phú, Thành Ngọc Linh, Nguyễn Thế Hiệp và TS Lê Duy Đại tham gia biên soạn.

    - Atlas địa lí Việt Nam xét về mặt mục đích phục vụ thì cấu trúc nội dung của nó phù hợp với chương trình môn địa lí phổ thông cơ sở và phổ thông trung học, phù hợp với sách giáo khoa địa lí lớp 8, lớp 9 và lớp 12 hiện hành và đáp ứng được yêu cầu tìm hiểu về địa lí Việt Nam.

    Toàn tập atlas bao gồm 24 trang với 3 phần:

    - Phần mở đầu gồm 3 trang trình bày các kí hiệu chung, hành chính

    - Phần tự nhiên gồm 7 trang đề cập đến hình thể, địa chất khoáng sản, khí hậu, đất thực vật và động vật, các miền tự nhiên.

    - Phần dân cư, kinh tế gồm 13 trang trình bày về dân số, dân tộc, nông nghiệp chung, nông nghiệp ngành, lâm nghiệp và ngư nghiệp, công nghiệp chung, công nghiệp ngành, giao thông, thương mại, du lịch, vùng kinh tế Bắc Bộ, vùng kinh tế Bắc Trung Bộ, vùng kinh tế Nam Trung Bộ, vùng kinh tế Nam Bộ.

    - Cơ sở toán học của tất cả các trang bản đồ đều được thiết kế có tính thống nhất. Phép chiếu sử dụng thống nhất là phép chiếu hình nón hai vĩ tuyến chuẩn (j1 = 110B và j2 = 210B). Tỉ lệ chung cho các trang bản đồ chính là 1: 6.000.000, tỉ lệ 1: 9.000.000 dùng cho các bản đồ ngành và tỉ lệ 1:18.000.000 cho các bản đồ phụ, tỉ lệ 1:3.000.000 đối với bản đồ các miền tự nhiên và các vùng kinh tế.

    - Muốn khai thác, sử dụng atlas địa lí Việt Nam một cách có hiệu quả trước hết phải nghiên cứu kĩ bảng kí hiệu chung để hiểu được bản chất, khả năng thể hiện của các kí hiệu bản đồ, cũng như bản chất của các phương pháp, hình thức biểu hiện trên bản đồ và khả năng thể hiện của các phương pháp biểu hiện. Trang kí hiệu chung bao gồm những kí hiệu phản ánh gần đầy đủ nội dung chung của toàn tập từ những yếu tố tự nhiên, kinh tế, dân cư hành chính… bố cục chung của trang kí hiệu chung bao gồm 4 phần:

    + Các yếu tố tự nhiên: phân tầng địa hình, các yếu tố địa hình, thuỷ hệ, khoáng sản.

    + Công nghiệp: các trung tâm công nghiệp và công nghiệp khai khoáng.+ Nông, lâm ngư nghiệp: các vùng nông nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi…

    + Các yếu tố khác.

    Đối với các yếu tố tự nhiên trước hết phải hiểu được nguyên tắc phân loại bậc thang phân tầng địa hình để từ đó đọc được tốt các trang bản đồ hình thể và các miền tự nhiên.

    Phân tầng địa hình thể hiện địa hình trên đất liền và địa hình đáy biển.   

    - Địa hình trên đất liền: Đối với địa hình trên đất liền, phân tầng độ cao có các đường bình độ: 50m, 200m, 1500m và 2500m , trong đó:

    + Đường 50m nêu lên các đồi núi sót ở đồng bằng và cũng là ranh giơi trung bình của vùng đồng bằng và trung du cả nước, (ranh giới màu xanh ve chuyển sang màu vàng).

    + Tầng 200 – 500m thể hiện các dãy núi thấp và địa hình sơn cước của vùng núi nói chung (có màu vàng cam).

    + Tầng 500 – 1500m cần thể hiên rõ các cánh cung vùng núi Đông Bắc, có tụ điểm chụm lại ở dãy núi Tam Đảo, nó còn thể hiện các khối núi đồ sộ ở vùng Tây Bắc - Đông Nam, nêu lên dãy Trường Sơn có sườn Đông dốc và sườn Tây thoải và các cao nguyên phun trào ba dan vùng KonTum, Đăk Lắc, Di Linh (có màu cam).

    + Tầng 1500 – 2500m nêu lên các cao nguyên Đồng Văn, vùng núi Sa Pa, Hoàng Liên sơn, cao nguyên Lâm Viên, một phân tầng vùng địa lí có khí hậu ôn hoà quanh năm (có màu cam nâu).

    + Tầng 2500m trở lên khoanh ra các chỏm cao có các đỉnh núi cao nhất Việt Nam như Phan Xi Păng (Phanxipan) 3143m, Phu Luông 2980m, Puxailailang 2711m, Ngọc Lĩnh 2598m (các chỏm này có màu nâu xẫm).

    + Đối với bản đồ nền tỉ lệ 1:3.000.000 và 1:3.500.000 cần vẽ thêm đường phân tầng độ cao 100m, để thể hiện được thêm cao nguyên và sơn nguyên khác ở Lào, campuchia và Hoa Nam (Trung Quốc).

    - Địa hình đáy biển: Phân tầng độ sâu có các đường bình độ sau:
    -20m, -50m, -100m, -200m, -1000m, -1500m, -2000m, -4000m. Các đường độ sâu này có ý nghĩa đối với vùng biển Việt Nam như sau:

    + Đường -20m là độ sâu mớn nước các tàu biển vượt đại dương có thể tiếp cận bến cảng, để thể hiện các bãi phù sa ngầm và vùng đảo san hô vòng (lagoon).

    + Đường -50m nêu lên độ dốc thoải thềm lục địa ở vịnh Bắc Bộ và ở phía Nam ở sông Mê Công.

    + Đường -100m vẽ ra địa hình của vịnh Bắc Bộ và rãnh nông ngăn cách đảo Natura thuộc Inđônêxia với thềm phù sa sông Mê Công.

    + Đường -200m vẽ ra ranh giới thềm lục địa của bán đảo đông dương

    + Đường -1000m và -1500m là sườn lục địa Nam Trung Bộ và có thềm biển vươn ra các nhóm đảo của quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa theo hướng Tây Nam - Đông Bắc.

    + Đường -2000m vẽ ra các máng biển ngăn cách quần đảo Trường Sa với đảo Boocnêo và đảo Palavan.

    + Đường - 4000m thể hiện lòng chảo và đáy Biển Đông.

    Nội dung công nghiệp bao gồm các kí hiệu thể hiện các trung tâm công nghiệp, các ngành công nghiệp, công nghiệp khai thác khoáng sản. Các trung tâm công nghiệp thể hiện quy mô theo giá trị tương đối: nhỏ, vừa, lớn, rất lớn. Các ngành công nghiệp được thể hiện bằng các kí hiệu hình học và trực quan, công nghiệp khai thác dùng kí hiệu hình học và kí hiệu chữ, nhưng chú ý phân biệt giữa kí hiệu khoáng sản và kí hiệu công nghiệp khai khoáng ở chỗ kí hiệu công nghiệp khai thác khoáng sản có vòng tròn bao kí hiệu khoáng sản.

    Nội dung nông, lâm, ngư nghiệp dùng kí hiệu diện thể hiện cho vùng nông nghiệp và kí hiệu trực quan thể hiện các cây trồng và vật nuôi chính.

    Các yếu tố khác, đặc biệt các điểm dân cư được thể hiện theo chức năng hành chính ở các tỉ lệ khác nhau bằng kí hiệu hình học và kiểu và kích thước chữ.

    Muốn khai thác và sử dụng tốt bản đồ giáo khoa nói chung vá atlas giáo khoa nói riêng phải hiểu và đọc được các kí hiệu bản đồ, nhưng kí hiệu bản đồ và màu sắc trên bản đồ, cũng chỉ là những phương tiện cuả phương pháp thể hiện bản đồ mà thôi. Do vậy người sử dụng bản đồ và atlas nhất thiết phải hiểu được các phương pháp thể hiện những nội dung địa lí trên bản đồ. Khi thể hiện bản đồ, ngoài việc phản ánh những hình dạng bên ngoài của đối tượng và hiện tượng địa lí còn phải chỉ ra được sự phân bố, những đặc điểm định tính, định lượng, cấu trúc của các đối tượng và hiện tượng nữa. Vì vậy, mỗi một đối tượng và hiện tượng địa lí đòi hỏi phải có những phương pháp biểu hiện thích hợp.

    Khi đọc, khai thác từng trang bản đồ phải vận dụng đúng đắn nguyên tắc, phương pháp và nội dung phân tích, sử dụng bản đồ và thường đề cập tới những nội dung chính; nội dung bản đồ, phương pháp và các phương tiện phương án (kí hiệu, màu sắc…) để thực hiện phương pháp và từ đó nêu lên những đặc điểm chính của đối tượng, mối quan hệ giữa các đối tượng hiệntượng địa lí. Sau đây là một số gợi ý khi phân tích, khai thác các bản đồ trong tập atlas địa lí Việt Nam.

    - Bản đồ hành chính (trang 2, 3)

    + Nội dung thể hiện các đơn vị hành chính Việt Nam gồm 64 tỉnh thành phố. Các điểm dân cư được thể hiện theo chức năng hành chính: thủ đô, thành phố trực thuộc trung ương, thành phố tỉnh lị, thị xã tỉnh lị. Chú ý vào thời điểm chia tách tỉnh (Nghị quyết 22/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc Hội) tỉnh lị của tỉnh Lai Châu là Thị trấn Phong Thổ và tỉnh lị của tỉnh Đắc Nông là Thị trấn Gia Nghĩa. Ngoài ra, nội dung bản đồ còn thể hiện vị trí của Việt Nam trong Đông Nam Á (bản đồ phụ) và bảng số liệu về diện tích, dân số của các tỉnh.

    + Cần thống kê số tỉnh, diện tích và dân số trong từng vùng hành chính. Tuy nhiên, cần chú ý hiện còn có sự chưa thống nhất ở một số tài liệu về số tỉnh trong một số vùng như: Duyên hải Nam Trung Bộ và vùng Đông Nam Bộ.

    + Xác định những tỉnh có diện tích lớn nhất, diện tích nhỏ nhất, các tỉnh có số dân lớn nhất và các tỉnh có số dân ít nhất.

    Bản đồ hình thể (trang 4, 5)

    - Để có cách nhìn khái quát về vị trí, lãnh thổ và đặc điểm chung địa hình Việt Nam trước tiên cần xác định giới hạn lãnh thổ phần đất liền (cực Bắc, cực Nam, cực Đông, cực Tây) và phần biển.

    - Nhận xét và đánh giá về vị trí địa lí và hình dạng kích thước lãnh thổ có ảnh hưởng như thế nào về mặt tự nhiên và kinh tế xã hội.

    - Nêu lên đặc điểm chung của điạ hình Việt Nam, thông qua việc phân tích thang tầng địa hình kết hợp với việc đọc bản đồ các miền tự nhiên trang 9 và trang 10.

    Bản đồ địa chất khoáng sản
    - Nội dung bản đồ thể hiện các thành tạo địa chất: các loại đá theo tuổi, các đứt gãy kiến tạo, các thể xâm nhập mắc ma, điều kiện địa chất biển Đông và sự phân bố các mỏ khoáng sản.

    - Các loại đá có tuổi khác nhau được thể hiện bằng phương pháp nền chất lượng với các nền màu khác nhau kết hợp với kí hiệu chữ. Các đứt gãy kiến tạo được thể hiện bằng phương pháp kí hiệu tuyến (theo đường). Các mỏ khoáng sản được thể hiện bằng phương pháp kí hiệu với các kí hiệu có hình dạng khác nhau, màu sắc khác nhau và kí hiệu chữ. Các mỏ khoáng sản được phân loại theo 3 nhóm chính: năng lượng, kim loại và các nhóm phi kim loại. Các mỏ chỉ được thể hiện sự phân bố mà không thể hiện trữ lượng.

    - Chú ý cần giải thích hai loại mỏ nội sinh và ngoại sinh về đặc điểm và sự phân bố. Nhấn mạnh vùng Đông bắc là vùng nhiều mỏ nhất, đồng thời nhấn mạnh vai trò ý nghĩa của dầu khí ở vùng trũng sông Cửu Long và thềm lục địa.

    Bản đồ khí hậu  

    Nội dung bản đồ khí hậu trong tập atlas (tỉ lệ 1:9.000.000) được xây dựng theo sách giáo khoa địa lí lớp 8 do nguyễn Dược tổng chủ biên, Nguyễn Phi Hạnh chủ biên và Đặng Văn Đức, Đặng Văn Hương, Nguyễn Minh Phương biên soạn. Vì thế, nội dung bản đồ thể hiện:

    - Các miền khí hậu: Miền khí hậu phía Bắc, miền khí hậu Đông Trường sơn và miền khí hậu phía Nam.

    + Miền khí hậu phía Bắc có ranh giới phía Nam là dãy Hoành Sơn (180B) có mùa đông lạnh, tương đối ít mưa, nửa cuối mùa đông ẩm ướt, mùa hè nóng và mưa nhiều.

    + Miền khí hậu đông Trường sơn bao gồm phần lãnh thổ Trung Bộ phía đông dãy Trường Sơn từ Hoành Sơn đến mũi Dinh (110B) có mùa mưa lệch hẳn về thu đông.

    + Miền khí hậu phía Nam (bao gồm cả Nam Bộ và Tây Nguyên), có khí hậu cận xích đạo, nhiệt độ quanh năm cao với một mùa mưa và một mùa khô tương phản sâu sắc.

    Các miền khí hậu được thể hiện bằng phương pháp nền chất lượng với 3 nền màu khác nhau.

    - Biểu đồ nhiệt độ và lượng mưa thể hiện biến trình nhiệt độ trung bình tháng và lượng mưa trung bình. Các biểu đồ này đặt vào vị trí các đài trạm lựa chọn tiêu biểu cho từng miền khí hậu. Phương pháp thể hiện là phương pháp biểu đồ định vị.

    - Chế độ gió (hướng và tần xuất) được thể hiện bằng phương pháp biểu đồ định vị với biểu đồ hoa gió tháng 1 (màu lơ) và tháng 7 (màu đỏ) và phương pháp kí hiệu đường chuyển động bởi các véc tơ (mũi tên) thể hiện các loại gió và bão theo màu sắc và hình dạng của vectơ.

    - 6 bản đồ tỉ lệ 1:18.000.000 thể hiện lượng mưa và nhiệt độ. Về lượng mưa thể hiện lượng mưa trung bình năm, tổng lượng mưa từ tháng 11 – 4, tổng lượng mưa từ tháng 5 - 10. Phương pháp thể hiện là nền số lượng. Về nhiệt độ, bản đồ thể hiện nhiệt độ trung bình năm, nhiệt độ trung bình tháng 1 và nhiệt độ trung bình tháng 7. Khi giải thích sự phân bố lượng mưa và phân bố nhiệt độ cần so sánh đối chiếu với bản đồ khí hậu, gió, bản đồ hình thể và bản đồ các miền tự nhiên.

    - Chú ý phân tích ảnh hưởng của khí hậu tới sản xuất nông nghiệp: Lượng mưa lớn dồi dào làm cho cây cối phát triển quanh năm, khả năng xen canh tăng vụ, trồng nhiều cây công nghiệp gốc nhiệt đới có giá trị kinh tế cao. Chế độ mưa tạo nguồn nước cho nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt. Tính chất thất thường của khí hậu làm cho sản xuất nông nghiệp bấp bênh, thường xuyên phòng chống bão lụt.

    Các miền tự nhiên (trang 9 và trang 10)

    Các miền tự nhiên gồm 3 miền: miền Bắc và Đông Bắc Bộ, miền Tây bắc và Bắc Trung bộ, miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ.

    Đọc các trang này trước hết đọc kĩ thang phân tầng địa hình và các lát cắt địa hình để nêu lên đặc điểm chung của địa hình Việt Nam cũng như ở các miền tự nhiên.

    - Xác định ranh giới của các miền tự nhiên, vị trí địa lí cuả các miền, đánh giá ý nghĩa về tự nhiên và kinh tế của miền.

    - Dựa vào các bậc độ cao, hình thái để nêu lên những đặc điểm địa hình, các đơn vị địa hình; sơn nguyên, cao nguyên, các đặc điểm sơn văn; các dãy núi theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, các dãy núi cánh cung, dãy Trường Sơn và các dãy núi đâm ngang. Các đỉnh núi cao trên 2500m và các đỉnh núi tiêu biểu khác. Đồng bằng châu thổ, các cánh đồng trên vùng núi. Các hệ thống sông chính, các hồ nước tự nhiên và các hồ thuỷ điện…

    - Để nghiên cứu hướng núi chung của địa hình, các bậc địa hình tiêu biểu, mức độ chia cắt sâu và chia cắt ngang của địa hình phải đọc kĩ các lát cắt địa hình. Cần chú ý là các bậc địa hình đồi núi Việt Nam là do các chu kì kiến tạo tạo ra. Các bậc địa hình đó là:

    + Bậc 200 – 600m chiếm một diện tích lớn nhất, nay bị sông suối chia cắt thành các quả đồi hay các ãy đồi.

    + Bậc 600 – 900m tạo nên vùng núi thấp đó là cảnh quan vùng đồi núi thấp phổ biến nhất ở nước ta.

    + Các bậc trên 1500m là các vùng sơn nguyên và các vùng núi cao có các đỉnh trên 2500m.

    Khi xây dựng hoặc đọc các lát cắt địa hình đặc biệt chú ý tới hướng cắt. Chọn hướng cắt địa hình sao cho khi cắt thể hiện được đặc điểm của địa hình trong khu vực. Sau đó là chọn tỉ lệ ngang và tỉ lệ cao của lát cắt. Thường tỉ lệ ngang giữ nguyên theo tỉ lệ bản đồ, còn tỉ lệ cao thường phải tăng 2,3,4 lần so với chiều ngang.

    Bản đồ dân số và dân tộc (trang 11 và 12)

    Nội dung chính của hai trang này là thể hiện mật độ dân số, các điểm dân cư thành thị, sự phân bố của các dân tộc theo ngữ hệ và nhóm ngôn ngữ. Bên cạnh đó là các biểu đồ thể hiện tình hình dân số Việt Nam qua các năm, kết cấu dân số theo giới tính và theo độ tuổi, cơ cấu dân số hoạt động theo ngành và cơ cấu các nhóm dân tộc Việt Nam.

    Khi đọc các trang bản đồ này cần chú ý:

    - Chỉ tiêu mật độ dân số không tính theo một đơn vị hành chính nào (tỉnh, huyện) mà theo vùng bởi vì chỉ số mật độ dân số được thể hiện bằng phương pháp nền số lượng.

    - Bậc thang dân số được lựa chọn thích hợp phản ánh đúng thực trạng phân bố dân cư của Việt Nam. Mật độ được thể hiện qua sắc độ của gam màu nóng. Mật độ càng thấp thì màu càng nhạt (vàng, da cam), mật độ càng cao sắc thì độ màu càng đậm (hồng-hồng đậm).

    - Các điểm dân cư đô thị được thể hiện theo quy mô dân số và cấp đô thị. Phương pháp thể hiện các điểm dân cư đô thị là phương pháp kí hiệu với dạng kí hiệu hình học. Quy mô dân số của các điểm dân cư được thể hiện thông qua kích thước và hình dạng kí hiệu với bậc thang số lượng cấp bậc quy ước. Cấp đô thị được thể hiện theo kiểu chữ, tới đô thị loại 1,2,3 và 4, đô thị loại 5. Các thị trấn do tỉ lệ bản đồ nhỏ và số lượng thị trấn quá lớn nên không thể hiện trên bản đồ. Khi so sánh số dân của các đô thỉtên bản đồ cần phân biệt rõ kí hiệu theo bản chú giải tránh nhầm lẫn theo cảm giác chủ quan. Vì số liệu được lấy theo các tài liệu thống kê chính thống đảm bảo độ chính xác và tính cập nhật.

    - Từ phân tích bản đồ có thể rút ra nhiều nhận xét và kết luận về đặc điểm phân bố dân cư, phân bố dân cư đô thị…  

    Bản đồ nông nghiệp chung (trang 13)

    - Nội dung bản đồ thể hiện, hiện trạng sử dụng đất, các vùng nông nghiệp, các cây trồng và vật nuôi chính và các biểu đồ phụ thể hiện giá trị sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản.

    - Hiện trạng sử dụng đất được thể hiện bằng phương pháp vùng phân bố với nền màu khác nhau. Cây trồng và vật nuôi chính được thể hiện bằng phương pháp vùng phân bố với các kí hiệu trực quan được khái quát hoá cao theo vùng. 7 vùng nông nghiệp được thể hiện bằng phương pháp nền chất lượng với kí hiệu chữ số La mã.

    - Cần chú ý phân tích hiện trạng sử dụng đất (phân bố, diện tích), ranh giới các vùng nông nghiệp (các tỉnh thành phố thuộc vùng, đặc điểm nông nghiệp chung của vùng). Giải thích sự phân bố các cây trồng và vật nuôi chính ở hai vùng trọng điểm cây lương thực (Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long), ở Đồng bằng Duyên hải miền Trung, ở các vùng trọng điểm của cây công nghiệp dài ngày như Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Miền núi Trung du phía Bắc. Về chăn nuôi có hai vùng có đàn trâu lớn nhất là Đông Bắc và Bắc Trung Bộ. Ba tỉnh có đàn trâu nhiều nhất là Nghệ An, Thanh Hoá, Lạng Sơn. Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung bộ có đàn bò lớn nhất. Các tỉnh có đàn bò nhiều nhất là Gia lai, Nghệ An, Thanh Hoá…

    Các bản đồ nông nghiệp ngành (trang 14)

    - Trang bản đồ nông nghiệp ngành đề cập tới 2 ngành chính là trồng trọt và chăn nuôi. Trồng trọt thể hiện ngành trồng lúa, hoa màu và cây công nghiệp.

    - Bản đồ lúa tỉ lệ 1:9.000.000. Bản đồ thể hiện các nội dung về diện tích và sản lượng lúa của các tỉnh, diện tích trồng lúa so với diện tích trồng cây lương thực. Diện tích và sản lượng lúa của các tỉnh được thể hiện bằng phương pháp Cartodiagram với biểu đồ cột. Trong đó, biểu đồ cột màu xanh thể hiện diện tích, cột màu gạch thể hiện số lượng. Thông qua đơn vị cơ sở có thể tích được diện tích và sản lượng lúa của từng tỉnh. Diện tích trồng lúa so với diện tích trồng cây lương thực được thể hiện bằng phương pháp Cartogram. Từ bản đồ có thể rút ra những nhận xét về các vùng trọng điểm lúa, các tỉnh có diện tích trồng lúa lớn nhất, các tỉnh có sản lượng lúa lớn nhất. Mối liên quan giữa diện tích và sản lượng lúa. Những tỉnh là trọng điểm lúa của cả nước là những tỉnh có sản lượng lúa lớn nhất như: Kiên Giang, An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Long An, Sóc Trăng và Tiền Giang.

    - Bản đồ hoa màu tỉ lệ 1:18.000.000. Nội dung của bản đồ (tỉ lệ diện tích gieo trồng hoa màu so với tổng diện tích trồng cây lương thực) được thể hiện bằng phương pháp Cartogram. Các tỉnh có diện tích hoa màu so với diện tích cây lương thực lớn nhất là Tây Nguyên, Tây Bắc và một số tỉnh Đông Bắc. Nội dung thứ hai là phân bố của các cây hoa màu chính như ngô, khoai, sắn bằng phương pháp vùng phân bố. Ở đây có sự phù hợp giữa các vùng trồng nhiều hoa màu cũng là các vùng có diện tích hoa màu so với diện tích cây lương thực lớn.

    - Bản đồ cây công nghiệp có tỉ lệ 1:18.000.000. Bản đồ này đề cập đến nội dung chính là tỉ lệ diện tích gieo trồng cây công nghiệp so với diện tích gieo trồng và được thể hiện bằng phương pháp Cartogram. Nội dung thứ hai thể hiện sự phân bố của một số loại cây công nghiệp chính. Ví dụ, cây công nghiệp ngắn ngày là mía, lạc, bông, thuốc lá và cây công nghiệp dài ngày là hồ tiêu, chè, cà phê, cao su, dừa…

    - Bản đồ chăn nuôi tỉ lệ 1:9.000.000. Bản đồ đề cập tới hai nội dung chính: một là, số lượng gia súc, gia cầm của các tỉnh và hai là số lượng gia súc tính bình quân. Nội dung thứ nhất được thể hiện bằng phương pháp Cartodiagram, với các biểu đồ cột. Độ cao của biểu đồ thể hiện số lượng trên theo đơn vị tỉnh. Màu sắc của biểu đồ thể hiện các loại gia súc: trâu, bò, lợn. Riêng gia cầm vì số lượng quá lớn so với các loại gia súc nên dùng biểu đồ nửa hình tròn với bậc thang cấp bậc quy ước. Nội dung thứ hai cũng được thể hiện bằng phương pháp Cartogram.

    Bản đồ lâm nghiệp và ngư nghiệp (trang 15)

    - Nội dung bản đồ thể hiện ti lệ diện tích rừng so với diện tích toàn tỉnh, giá trị sản xuất lâm nghiệp của các tỉnh, thành phố, sản lượng thuỷ sản đánh bắt và nuôi trồng, bãi cá bãi tôm, sản lượng thuỷ sản của cả nước qua các năm.

    - Thể hiện nội dung tỉ lệ diện tích rừng so với diện tích toàn tỉnh bằng phương pháp Cartogram với sắc độ màu (đậm nhạt) khác nhau, càng đậm tỉ lệ diện tích càng cao. Giá trị sản xuất lâm nghiệp của các tỉnh và thành phố bằng phương pháp Cartodiagram với bậc thang cấp bậc quy ước.

    - Thể hiện sản lượng thuỷ sản  đánh bắt và nuôi trồng của các tỉnh và thành phố bằng phương pháp Cartodiagram với biểu đồ cột. Cột màu đỏ thể hiện thuỷ sản đánh bắt và cột màu xanh là thuỷ sản nuôi trồng. Đơn vị tính 1mm độ cao của biểu đồ tương ứng với 2000 tấn. Những tỉnh có sản lượng dưới 5000 tấn không được thể hiện theo tỉ lệ, các tỉnh có sản lượng quá lớn cũng không thể hiện theo tỉ lệ mà chiều cao của cột bị đứt đoạn và được ghi trực tiếp số lượng phía trên cột.

    - Các bãi cá, bãi tôm được thể hiện bằng phương pháp vùng phân bố.

    - Khi đọc bản đồ, chúng ta phải dựa vào các chỉ số (số lượng) trong bản chú giải, tức là sắc độ màu, kích thước của biểu đồ tròn, độ cao của biểu đồ cột để có những thông tin về số lượng tỉ lệ diện tích rừng, giá trị sản xuất lâm nghiệp và sản lượng thuỷ sản đánh bắt và nuôi trồng của các tỉnh và thành phố.

    - Khi đọc bản đồ cần rút ra những nhận xét về những vùng, những tỉnh có diện tích rừng so với diện tích tự nhiên cao (>50%); những vùng, những tỉnh có diện tích rừng thấp (<25%) giải thích hiện tượng đó. Nhận xét về sự phát triển rừng: nhìn chung diện tích rừng có sự biến động rất mạnh cả về mặt số lượng và chất lượng theo cả 2 chiều hướng tích cực và tiêu cực, chứng minh nhận định đó. Nhận xét về những tỉnh có giá trị sản xuất lâm nghiệp lớn nhất (>200 tỉ đồng) và những tỉnh có giá trị sản xuất lâm nghiệp thấp (<25 tỉ). Về sản lượng thuỷ sản đánh bắt và nuôi trồng cũng cần rút ra những nhận xét và giải thích tương tự như nội dung lâm nghiệp trên.

    Bản đồ  công nghiệp chung (trang 16)

    Nội dung bản đồ đề cập tới những đặc điểm chung của công nghiệp Việt Nam và sự phân hoá lãnh thổ công nghiệp. Trong đó có những nội dung chính: các trung tâm và điểm công nghiệp theo giá trị sản phẩm, các ngành công nghiệp, và những biểu đồ phụ thể hiện sự phát triển của sản xuất công nghiệp, sản xuất công nghiệp phân theo thành phần kinh tế và theo nhóm ngành của công nghiệp cả nước.

    - Phương pháp thể hiện những nội dung chủ yếu nêu trên là phương pháp kí hiệu. Phương pháp này có khả năng định vị chính xác vị trí địa lí của các trung tâm và điểm công nghiệp, thể hiện được quy mô về cấu trúc của các trung tâm công nghiệp. Quy mô của các trung tâm công nghiệp được tính theo giá trị sản xuất thông qua bậc thang cấp bậc quy ước. Các ngành công nghiệp được thể hiện bằng các kí hiệu hình học và kí hiệu trực quan (bảng kí hiệu chung).

    - Qua bản đồ có thể rút ra những nhận xét và lí giải những vấn đề đó. Nhận xét về phân bố công nghiệp theo lãnh thổ, đặc biệt hai khu vực Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ. Chú ý các trung tâm công nghiệp lớn, các ngành chính trong trung tâm và lí giải về sự phân bố công nghiệp theo lãnh thổ và theo ngành.

    Bản đồ công nghiệp ngành (trang 17)

    - Nội dung chia thành 3 nhóm ngành: công nghiệp năng lượng, công nghiệp luyện kim, cơ khí, điện tử – tin học, hoá chất và nhóm ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm. Đúng ra phải chia ra thành 4 ngành cho phù hợp với cơ cấu ngành chung là: công nghiệp năng lượng (dầu khí, than, điện), công nghiệp vật liệu (vật liệu xây dựng, hoá chất, luyện kim), công nghiệp sản xuất công cụ lao động (điện tử, cơ khí) công nghiệp chế biến và sản xuất hàng tiêu dùng (công nghiệp tiêu dùng, công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản). Tuy nhiên do thiết kế trong một trang bản đồ do vậy có sự gộp thành 3 nhóm ngành:

    - Bản đồ công nghiệp năng lượng tỉ lệ 1:9.000.000. Dùng phương pháp kí hiệu để thể hiện mạng lưới các máy điện, các cụm máy diêzen. Các nhà máy điện chia ra nhiệt điện và thuỷ điện (ngôi sao màu đỏ và màu xanh). Công suất của các nhà máy thể hiện theo kích thước kí hiệu (trên 1000MW và dưới 1000MW). Nhà máy thuỷ điện đang xây dựng được thể hiện bằng ngôi sao trắng viền xanh. Các mỏ than đang khai thác cũng được thể hiện bằng phương pháp kí hiệu hình học truyền thống. Các mỏ dầu khí đang khai thác cũng được thể hiện bằng phương pháp kí hiệu. Các trạm biến áp thể hiện bằng phương pháp kí hiệu, đường dây 500kV được thể hiện bằng phương pháp kí hiệu tuyến. Khi đọc bản đồ này giáo viên nên hướng học sinh rút ra những nhận xét về từng ngành điện, than, dầu khí... giải thích tình hình sản xuất, sự phân bố của các ngành.

    - Bản đồ luyện kim, cơ khí, điện tử, tin học, hoá chất tỉ lệ 1:9.000.000. Nội dung thể hiện các trung tâm của nhóm ngành, theo quy mô giá trị sản xuất bởi bậc thang cấp bậc quy ước bằng phương pháp kí hiệu. Các ngành công nghiệp được biểu diễn bằng các kí hiệu trực quan.

    - Bản đồ công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm tỉ lệ 1:9.000.000. Nội dung thể hiện các trung tâm công nghiệp ngành theo quy mô giá trị sản xuất bậc thang cấp bậc quy ước. Các ngành công nghiệp được biểu diễn bằng các kí hiệu trực quan.

    Bản đồ giao thông (trang 18)

    Nội dung của bản đồ thể hiện

    - Các yếu tố: mạng lưới giao thông đường sắt, mạng lưới đường bộ, đường biển và các công trình phục vụ giao thông như sân bay, bến cảng... Phương pháp thể hiện chung là phương pháp kí hiệu tuyến kết hợp với phương pháp kí hiệu.

    - Từ bản đồ có thể hướng dẫn học sinh đưa ra những nhận xét chung.

    + Mạng lưới đường bộ về độ phủ trên lãnh thổ, mật độ mạng lưới, các đầu mối quan trọng, các tuyến giao thông đường bộ quan trọng nhất theo hướng Bắc – Nam, Tây – Đông... vai trò ý nghĩa của các tuyến đường đó.

    + Mạng lưới đường sắt: Tổng chiều dài và mật độ đường sắt, các tuyến đường sắt quan trọng nhất, vai trò, ý nghĩa của nó trong việc phát triển kinh tế vùng và cả nước, quốc tế...

    + Mạng lưới đường sông, mạng lưới đường biển, mạng lưới đường hàng không, 10 cảng biển trọng điểm hiện nay, ý nghĩa và tầm quan trọng của các tuyến giao thông này.

    Bản đồ thương mại (trang 19)

    Nội dung chia làm 2 bản đồ: Thương mại tỉ lệ 1:9.000.000 và Ngoại thương, tỉ lệ 1:180.000.000.

    - Bản đồ thương mại thể hiện nội dung chủ yếu: Nội dung thống nhất thể hiện tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tính theo đầu người của các tỉnh bằng phương pháp Cartogram với gam màu nóng thay đổi sắc độ. Nội dung thứ hai thể hiện tổng số người kinh doanh thương nghiệp và dịch vụ của các tỉnh bằng phương pháp Cartodiagram với biểu đồ nửa hình tròn theo bậc thang cấp bậc quy ước. Nội dung thứ ba thể hiện xuất nhập khẩu của các tỉnh cũng bằng phương pháp Cartodiagram với biểu đồ cột, trong đó phân biệt xuất khẩu và nhập khẩu bằng màu sắc của cột đứng. Ngoài ra, còn có một số biểu đồ phụ thể hiện cơ cấu giá trị hàng xuất khẩu, cơ cấu giá trị hàng nhập khẩu, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ qua một số năm.

    - Bản đồ ngoại thương thể hiện kim ngạch buôn bán giữa Việt Nam với các nước và vùng lãnh thổ bằng phương pháp Cartodiagram với biểu đồ hình tròn theo bậc thang cấp bậc quy ước. Bên cạnh đó là biểu đồ xuất nhập khẩu hàng hoá qua các năm.

    - Qua bản đồ cần rút ra những nhận xét thí dụ về xuất nhập khẩu. Những tỉnh xuất nhập khẩu nhiều nhất chính là những địa phương đầu mối, tập trung các cảng, các cửa khẩu như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu... Phần lớn các tỉnh có tỉ lệ xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu. Tuy nhiên, nên xét chung toàn quốc (biểu đồ ở bản đồ ngoại thương) thì nhập khẩu hàng hoá vẫn lớn hơn xuất khẩu, vì nhập khẩu hàng hoá chủ yếu từ các công ty, xí nghiệp của trung ương, của các bộ, ngành không được thống kê theo tỉnh, vì thế xét riêng từng tỉnh thì xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu, nhưng cả nước thì xuất khẩu lại nhỏ hơn nhập khẩu.

    Bản đồ du lịch (trang 20)

    - Nội dung bản đồ thể hiện các tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn, các trung tâm du lịch quốc gia và vùng. Bản đồ còn thể hiện nội dung phụ bằng các biểu đồ như: khách du lịch và doanh thu từ du lịch qua một số năm, cơ cấu khách du lịch quốc tế.

    - Các nội dung du lịch trên được thể hiện bằng phương pháp kí hiệu với những kí hiệu trực quan sinh động.

    - Qua bản đồ cần phân tích để nêu bật tiềm năng to lớn về các tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn là cơ sở phát triển một ngành du lịch hấp dẫn.

    Bản đồ về các vùng kinh tế (trang 21, 22, 23, 24)

    Atlas đề cập tới 7 vùng kinh tế: Vùng Trung du và miền núi Bắc bộ, Vùng đồng bằng sông Hồng, Vùng Bắc Trung Bộ, Vùng duyên hải Nam trung bộ, Vùng Tây Nguyên, Vùng Đông nam bộ và Vùng đồng bằng sông Cửu Long. Mỗi vùng kinh tế ngoài bản đồ vùng kinh tế còn có bản đồ tự nhiên của vùng để so sánh, đối chiếu, đánh giá thế mạnh các nguồn lực tự nhiên tài nguyên thiên nhiên để phát triển kinh tế vùng.

    Khi đọc các trang bản đồ này cần chú ý phân tích, đánh giá một số vấn đề sau:

    - Nêu đặc điểm chính về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của vùng (đọc ở trong các bản đồ tự nhiên); đánh giá về mặt vị trí địa lý, những thuận lợi và khó khăn cho việc phát triển kinh tế của vùng; đánh giá về mặt điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên cho việc phát triển kinh tế - xã hội của vùng.

    - Nêu đặc điểm khái quát về sự phân bố các ngành kinh tế trên lãnh thổ của vùng, đối chiếu với bản đồ tự nhiên để giải thích.

    - Nêu lên những thế mạnh của vùng, định hướng phát triển kinh tế của vùng.

    - Trên cơ sở đó có thể so sánh các vùng kinh tế với nhau, có thể thông qua việc so sánh về những vấn đề vừa nêu trên của mỗi vùng.


    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Thanh Long @ 12:12 18/02/2011
    Số lượt xem: 1238
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    bg_mod_21jpg