QUỐC KÌ VIỆT NAM

Bác Hồ kính yêu

Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh

Tài nguyên dạy học

Intel Teach Elements

Ảnh ngẫu nhiên

Baner_Tet_1.swf DONG_CO_4_KY.swf Thiep_moi_sinh_nhat_Thanh_Nghi.swf Vi_do_la_em__thanh.swf Ha_thn.swf Chuc_mung_ngay_Quoc_te_phu_nu_thiep_19.swf Su_dung_BDTD_trong_day_hoc.flv Ytuong1.gif Dong_bang_song_Cuu_Long_gap_nhieu_kho_khan_trong_viec_chong_choi_voi_lu.flv 183947901.gif Vn.png Elements.jpg Biakyyeu.jpg Header1.jpg TRANH_THUY_MAC.swf Dhsp1.jpg Ban_goc_Phan_giai_cao_logo_khoa_dia_li_dh_su_pham_tphcm_from_quangphu1ahto_duoi_png_ko_co_nen.png Bcn_khoa_qua_cac_thoi_ki.jpg Hinh_khoa.jpg T_binh.jpg

Tìm kiếm Google

Google

Tìm hiểu lịch sử

Bách khoa toàn thư

Ngày này năm xưa

Đất nước mến yêu

TIVI TRỰC TUYẾN

ĐỌC BÁO

THƯ NGỎ

Quý thầy cô và các em học sinh có muốn ghi nhớ trang này để dễ thuận tiện khi truy cập. Điều đó rất đơn giản chỉ cần quý thầy cô Click
vào đây

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Lê Thanh Long)

Liên hệ

Quản trị: Lê Thanh Long
01656604289
( )

Danh ngôn

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với website Tư liệu dạy và học môn Địa lý

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái. Cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh Trường THPT Phạm Văn Sáng quyết tâm học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dânmainbanner_500
    Gốc > Sài Gòn xưa và nay > Sài Gòn nay > Thành phố Hồ Chí Minh > KINH TẾ >

    3. Công nghiệp

      a) Tình hình phát triển 

    Trong cơ cấu GDP của Thành phố Hồ Chí Minh, khu vực công nghiệp – xây dựng đứng hàng thứ hai sau khu vực dịch vụ, nhưng tỉ trọng có xu hướng tăng và đạt 46,7% năm 2002. 

    Khác với nông nghiệp, công nghiệp của thành phố phát triển với tốc độ khá nhanh. Gía trị sản xuất công nghiệp tăng mạnh, từ 29,5 nghìn tỉ đồng năm 1995 lên 76,9 nghìn tỉ đồng năm 2002 (tính theo giá trị cố định năm 1994). Tính chung cho cả giai đoạn 1996 – 2002, tốc độ tăng trưởng trung bình năm đạt 13,2%. So với các tỉnh và thành phố khác. Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm công nghiệp lớn nhất cả nước. Để thấy rõ quy mô của ngành công nghiệp, có thể làm một phép so sánh đơn giản. Năm 2002 giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố chiếm 25,5% của cả nước, 52,4% của Đông Nam Bộ, 53,8% của tứ giá công nghiệp (Thành phố Hồ Chí Minh – Đồng Nai – Bình Dương – Vũng Tàu), gấp 5,7 lần tỉnh Bình Dương; 3,6 lần tỉnh Đồng Nai; 3,2 lần thành phố Hà Nội,... 

    Trên địa bàn thành phố, năm 2002, có 31,1 nghìn cơ sở sản xuất công nghiệp, trong đó chủ yếu tập trung vào công nghiệp chế biến (30,5 nghìn cơ sở). Các cơ sở công nghiệp quốc doanh chiếm tỉ lệ nhỏ, chỉ có 288 cơ sở. Điều đặc biệt là số cơ sở công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng khá nhanh, từ 181 cơ sở năm 1995 lên 524 cơ sở năm 2002. 

    Số lao động tham gia hoạt động công nghiệp khá đông đảo và thường xuyên tăng lên. Năm 1995 cả thành phố có 37,5 vạn người và đến năm 2002 đã lên tới hơn 78,3 vạn người. Phần lớn lao động hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, nhất là dệt – may. Đặc biệt là số lao động làm việc trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh, từ hơn 3,9 vạn năm 1995 lên đến 18,6 văn năm 2002. 

    Về cơ cấu ngành, theo cách phân loại của Tổng cục Thông kê, ngành công nghiệp bao gồm công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến và sản xuất – phân phối điện nước. Với cách phân chia này thì 96,9% giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố thuộc về công nghiệp chế biến (năm 2002). Hai phân ngành còn lại có tỉ trọng nhỏ. Trong công nghiệp chế biến, ưu thế lại thuộc về công nghiệp chế biến thực phẩm - đồ uống và công nghiệp hoá chất – các sản phẩm hoá chất. 

    Về cơ cấu thành phần kinh tế, kinh tế nhà nước vẫn đóng vai trò rất quan trọng. Mặc dù cả thành phố chỉ có 288 cơ sở sản xuất công nghiệp (so với 30,3 nghìn cơ sở sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh năm 2002), nhưng do quy mô lớn nên giá trị sản xuất công nghiệp vẫn nghiêng vè khu vực kinh tế nhà nước. Tuy nhiên, trong cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp, tỉ trọng của khu vực nhà nước liên tục giảm, còn tỉ trọng của khu vực ngoài quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài lại tăng lên. Trong khi tỉ trọng của khu vực nhà nước (gồm cả của Trung ương và của thành phố) giảm từ 60,7% năm 1995 xuống 44,3% năm 2000 và 39,0% năm 2002, thì tỉ trọng của khu vực ngoài quốc doanh tăng lên tương ứng là 23,4%; 26,5% và 30,1%. Tăng nhanh nhất là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, từ 16,0% năm 1995 lên 29,2% năm 2000 và 30,9% năm 2002 gắn với việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. 

    b) Các ngành công nghiệp chủ yếu 

      Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm công nghiệp đa ngành có quy mô lớn nhất nước ta. Trong cơ cấu ngành có hầu hết các phân ngành và đều tương đối phát triển. Nếu căn cứ vào giá trị sản xuất thì có thể thấy nổi lên một số ngành chính sau đây: 

    - Công nghiệp thực phẩm và đồ uống là ngành có giá trị sản xuất lớn nhất và đạt 24,43 nghìn tỉ đồng năm 2002 (theo giá thực tế). Tuy nhiên, tỉ trọng của ngành trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố có xu hướng giảm, từ 28,3% năm 1995 xuống 22,0% năm 2000 và 19,8% năm 2002. 

      Đây là ngành có khả năng phát triển mạnh, trước hết để phục vụ cho nhu cầu rất lớn của nhân dân thành phố và sau đó cho thị trường trong và kể cả ngoài nước. Các sản phẩm chính gồm có rượu, bia các loại, thuỷ sản chế biến, đường các loại, sữa hộp,...Trong những năm gần đây, một số sản phẩm có tốc độ tăng khá nhanh là bia các loại (sản lượng năm 2002 tăng gấp 2,5 lần so với năm 1995), thuỷ sản chế biến tăng 2,1 lần),...     

                                         MỘT SỐ SẢN PHẨM CÔNG NGHIỆP CHỦ YẾU

    Các sản phẩm 1995 2000 2001 2002

    - Lương thực xay xát (nghìn tấn)

    - Thuỷ sản chế biến (tấn)

    - Rượu các loại (nghìn lít)

    - Bia các loại (nghìn lít)

    - Sữa hộp đặc (nghìn hộp)

    - Axít (tấn)

    - Xút (tấn)

    - Phân bón (tấn)

    - Thuốc viên (triệu viên)

    - Vải thành phẩm (triệu mét)

    - Quần áo may sẵn (nghìn cái)

    - Thép các loại (nghìn tấn)

    - Ti vi (nghìn cái)

    913 

    12.950

    21.654

    144.951

    170.200

    12.977

    4.931

    177.775

    2.617

    94

    52.444

    195

    173

    1.204

     17.182

    2.119

    309.210

    151.545

    30.016

    10.357

    532.550

    4.091

    192

    111.227

    339

    571

    1.280 

    17.572

    3.100

    343.265

    151.249

    25.725

    10.650

    439.126

    4.139

    219

    110.317

    384

    773

    1.647 

    26.975

    3.403

    361.249

    166.720

    30.050

    12.601

    491.843

    4.429

    230

    135.487

    439

    1.009

      - Công nghiệp hoá chất và các sản phẩm hoá chất là ngành đứng hàng thứ hai về giá trị sản xuất trong các ngành công nghiệp. Gía trị sản xuất của ngành này năm 2002 đạt hơn 12,32 nghìn tỉ đồng (theo giá trị thực tế), chiếm khoảng 10% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp trên địa bàn thành phố. Khác với công nghiệp thực phẩm và đồ uống, tỉ trọng của ngành này trong cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp liên tục tăng, từ 7,7% năm 1995 lên 9,4% năm 2000 và 10,0% năm 2002. Hàng loạt sản phẩm của ngành đã và đang có mặt trên thị trường thành phố và cả nước. 

    - Ngành sản xuất các sản phẩm từ cao su, plastic có chỗ đứng khá vững chắc trên thị trường không chỉ của Thành phố Hồ Chí Minh và đạt 9,19 nghìn tỉ đồng (theo giá thực tế), chiếm 7,5% giá trị sản xuất của cả ngành công nghiệp (năm 2002). Tỉ trọng của nó cũng tăng từ 5,0% năm 1995 lên 7,1% năm 2002. Đây là ngành có tiềm năng và sẽ phát triển mạnh trong những năm tới. 

    - Các ngành dệt, may mặc cũng có nhiều cơ hội để phát triển. Nếu gộp cả hai phân ngành này lại thì tỉ trọng của chúng chỉ đứng sau công nghiệp thực phẩm và đồ uống. 

    Công nghiệp dệt là một trong những ngành truyền thống của thành phố. Năm 2002, ngành này đạt 8,64 nghìn tỉ đồng (theo giá thực tế), chiếm 7,0% tổng giá trị sản xuất của toàn ngành công nghiệp. Công nghiệp may mặc phát triển mạnh nhằm đáp ứng cho như cầu của thành phố và nhất là cho xuất khẩu. Gía trị sản xuất năm 2002 là 7,17 nghìn tỉ đồng (theo giá thực tế) và đạt tỉ trọng 5,8%. Các sản phẩm chính của hai ngành này là vải thành phẩm và quần áo may sẵn. 

    - Thuộc da và sản xuất các sản phẩm từ da vali, túi xách, giày dép) có thị trường tiêu thụ rộng lớn ở trong và ngoài nước. Trong cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố năm 2002, ngành này chiếm tỉ trọng 7,1% với hơn 8,78 nghìn tỉ đồng (theo giá thực tế). 

    Ngoài các ngành nói trên còn hàng loạt các ngành công nghiệp khác như sản xuất các sản phẩm từ kim loại, phi kim loại; sản xuất máy móc - thiết bị, thiết bị văn phòng, dụng cụ y tế, quang học, radiô – ti vi - thiết bị truyền thông; giấng và các sản phẩm từ giấy; chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ, tre, nứa,...Tuy nhiên, tỉ trọng của chúng trong cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp còn nhỏ. 

    c) Các khu công nghiệp tập trung 

      Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những địa phương đứng đầu cả nước về việc xây dựng các khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX). Đây có thể coi là một hình thức mới về tổ chức lãnh thổ công nghiệp, đem lại hiệu quả cao về kinh tế - xã hội, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá. 

      Tính đến tháng 2 – 2003, trên địa bàn thành phố đã có 14 KCN – KCX với diện tích 2.237,3 ha (chiếm 14,4% diện tích KCN – KCX của cả nước), thu hút gần 11 vạn lao động (37,6% số lao động đang làm việc trong KCN – KCX của nước ta) với tổng số vốn đầu tư đạt 10,39 tỉ USD (20,8% của toàn quốc). 

      Việc hình thành và phát triển KCN – KCX đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc đẩy mạnh nền kinh tế, thu hút lao động và giải quyết việc làm cho thành phố. 

      Cho đến năm 2002 đã có 727 dự án đi vào sản xuất. Trong số này có 350 dự án đầu tư của Nhà nước với tổng số vốn đăng kí 1.419 triệu USD (bình quân hơn 4 triệu USD/dự án) và 377 dự án đầu tư của tư nhân với tổng số vốn đăng kí 8,99 nghìn tỉ đồng, tương đương 580,2 triệu USD (bình quân 23,8 tỉ đồng/dự án).. Tổng số đất đã cho thuê (có giấng phép đầu tư) là 639,8 ha. Vốn đầu tư trung bình cho 1 ha đất (quy ra USD) đạt 3,1 triệu USD.

                     CÁC KCN – KCX Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH(ĐẾN THÁNG 2 – 2003)

    Số TT Tên các khu Diện tích (ha)  Ngày có quyết định thành lập Chủ đầu tư xây dựng

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    9

    10

    11

    12

    13

    14 

    KCX Tân Thuận

    KCX Linh Trung 1

    KCN Hiệp Phước

    KCN Bình Chiểu

    KCN Tân Tạo

    KCN Tân Bình

    KCN Vĩnh Lộc

    KCN Tây Bắc Củ Chi

    KCN Tân Thới Hiệp

    KCN Lê Minh Xuân

    KCN Cát Lái 4

    KCX Linh Trung 2

    KCN Phong Phú

    KCN Cát Lái 2

    300

    62

    332

    27,3

    442

    142

    207

    215

    29

    100

    127

    62

    149

    43

    24-9-1991

    31-8-199

    216-6-1996

    4-9-1996

    30-11-1996

    1-2-1997

    5-2-1997

    11-6-1997

    2-7-1997

    8-8-1997

    8-8-1997

    22-5-2000

    31-1-2002

    2-2003

    C.ti liên doanh KCX Tân Thuận

    C.ti liên doanh KCX Linh Trung

    C.ti phát triển Tân Thuận

    Tổng C.ti Bến Thành, quận 1

    C.ti TNHH ITACO, H.Bình Chánh

    C.ti TANIMEX, quận Tân Bình

    C.ti CHOLIMEX, quận 5

    C.ti Thương mại và Đầu tư, H. Củ Chi

    C.ti TNHH Tân Thới Hiệp, quận 12

    C.ti Đầu tư xây dựng, H. Bình Chánh

    Tổng C.ti Bến Thành, quận 1

    C.ti Liên doanh KCX Linh Trung

    C.ti cổ phần KCN Phong Phú

    C.ti quản lí và phát triển nhà quận 2

      Về cơ cấu vốn đầu tư (cả trong và ngoài nước) theo ngành dẫn đầu là ngành dệt – may – thiêu (490,6 triệu USD), tiếp theo là ngành điện - điện tử (473,7 triệu USD), ngành cơ khí – gia công kim loại – đúc (365,5 triệu USD), giày  - dép – túi xách (269 triệu USD),... 

    d) Định hướng phát triển 

      Theo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế  - xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010, một số định hướng chính trong ngành công nghiệp như sau: 

      - Về tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu 

      + Đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng công nghiệp (trung bình năm 13% vào giai đoạn 2001 – 2005 và 12,7% vào giai đoạn 2006 – 2010). 

      + Điều chỉnh cơ cấu giá trị sản xuất theo hướng giảm khu vực quốc doanh (25% năm 2005 và 30% năm 2010), tăng khu vực liên doanh và đầu tư nước ngoài (37% năm 2005 và 42% năm 2010). 

      + Điều chỉnh cơ cấu ngành theo hướng tăng tỉ trọng của các ngành (lĩnh vực) mũi nhọn của thành phố. 

      - Về phát triển các nhóm sản phẩm chủ yếu 

      + Thực phẩm chế biến và đồ uống (thuỷ hải sản, sản phẩm ăn liền, dầu thực vật, đồ uống,...) phục vụ không chỉ cho nhu cầu trong nước, mà còn cho xuất khẩu. Trong những năm tới, tốc độ tăng trưởng bình quân sẽ là 15 – 17%/năm.

      + Sản phẩm dệt may và giày dép có khả năng phát triển với tốc độ trung bình 15 – 17%/năm. Các công ti dệt lớn ( Thành Công, Thắng Lợi, Phước Long, Đông Á,...) đã đầu tư đổi mới công ngệ và thiết bị nhằm đáp ứng được vải chất lượng cao cho may xuất khẩu. Giày, dép là sản phẩm xuất khẩu tương đối ổn định và có điều kiện phát triển mạnh.

      + Sản phẩm nhựa và cao su có uy tính ở thị trường trong và ngoài nước. Cần chuyển đổi cơ cấu sản phẩm của ngành nhựa để đáp ứng nhu cầu nhựa chất lượng cao trong công nghiệp và vật liệu xây dựng. Tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 15 – 16%/năm trong thời kì 2001 – 2010.

      + Về cơ khí, ngoài các sản phẩm hiện có cần chuyển hướng vào một số lĩnh vực mới (máy động lực, máy công cụ). Dự báo tốc độ tăng trưởng trung bình ở mức 15 – 16%/năm.

      + Mĩ phẩm và các sản phẩm khác (bột giặt, xà phòng, thuốc chữa bệnh,...) với năng lực sản xuất rất lớn phục vụ cho nhu cầu trong và ngoài nước có khả năng tăng trưởng 12 – 13%/năm.

      + Sản phẩm điện tử bên cạnh những mặt hàng gia dụng truyền thống cần chuyển đổi dần cơ cấu sản phẩm, khuyến khích sản xuất vật liệu, mạch in, đĩa quang học, linh kiện IC và quang điện tử có tốc độ tăng trưởng trung bình dự kiến 12 – 13%.

      + Sản phẩm in ấn phát triển mạnh, có khả năng tăng trưởng trung bình 13 – 14%/năm.

      + Công nghệ phần mềm chủ yếu là thực hiện chương trình công viên phần mềm Quang Trung và khu công nghệ cao.


    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Thanh Long @ 07:47 26/05/2011
    Số lượt xem: 833
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    bg_mod_21jpg