QUỐC KÌ VIỆT NAM

Bác Hồ kính yêu

Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh

Tài nguyên dạy học

Intel Teach Elements

Ảnh ngẫu nhiên

Baner_Tet_1.swf DONG_CO_4_KY.swf Thiep_moi_sinh_nhat_Thanh_Nghi.swf Vi_do_la_em__thanh.swf Ha_thn.swf Chuc_mung_ngay_Quoc_te_phu_nu_thiep_19.swf Su_dung_BDTD_trong_day_hoc.flv Ytuong1.gif Dong_bang_song_Cuu_Long_gap_nhieu_kho_khan_trong_viec_chong_choi_voi_lu.flv 183947901.gif Vn.png Elements.jpg Biakyyeu.jpg Header1.jpg TRANH_THUY_MAC.swf Dhsp1.jpg Ban_goc_Phan_giai_cao_logo_khoa_dia_li_dh_su_pham_tphcm_from_quangphu1ahto_duoi_png_ko_co_nen.png Bcn_khoa_qua_cac_thoi_ki.jpg Hinh_khoa.jpg T_binh.jpg

Tìm kiếm Google

Google

Tìm hiểu lịch sử

Bách khoa toàn thư

Ngày này năm xưa

Đất nước mến yêu

TIVI TRỰC TUYẾN

ĐỌC BÁO

THƯ NGỎ

Quý thầy cô và các em học sinh có muốn ghi nhớ trang này để dễ thuận tiện khi truy cập. Điều đó rất đơn giản chỉ cần quý thầy cô Click
vào đây

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Lê Thanh Long)

Liên hệ

Quản trị: Lê Thanh Long
01656604289
( )

Danh ngôn

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 1 thành viên
  • Hoàng Cửu Thùy Uyên
  • Chào mừng quý vị đến với website Tư liệu dạy và học môn Địa lý

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái. Cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh Trường THPT Phạm Văn Sáng quyết tâm học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dânmainbanner_500
    Gốc > Sài Gòn xưa và nay > Sài Gòn nay > Thành phố Hồ Chí Minh > KINH TẾ >

    4. Dịch vụ

      Dịch vụ là khu vực kinh tế quan trong hàng đầu trong nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2002 khu vực này chiếm tới 51,6% GDP của thành phố, bao gồm rất nhiều ngành và hoạt động khá đa dạng.

      a) Ngành giao thông vận tải 

     - Thành phố Hồ Chí Minh nằm là đầu mối giao thông quan trọng bậc nhất của cả nước. Ở đây có đầy đủ các loại hình giao thông,  từ  đường ô tô, đường sắt, đường sông, đường biển cho đến  đường hàng không.

      Về đường ô tô, thành phố là đầu mối giao thông liên tỉnh, rất thuận tiện cho việc giao lưu trực tiếp với Đông Nam Bộ, Đồng băng sông Cửu Long và vùng phụ cận. Hệ thống giao thông bao gồm các tuyến quốc lộ, liên tỉnh với tổng chiều dài trong phạm vi thành phố là 218 km.

      Ngoài ra, giao thông đô thị rất phát triển ở khu vực nội thành, tuy sự phân bố không thật đồng đều. Mật độ đường xá rất cao ở khu vực trung tâm Sài Gòn  - Chợ Lớn và thấp hơn ở các khu vực khác. Toàn thành phố có đến hàng nghìn km đường đô thị, tuyệt đại bộ phận đã được trải nhựa với khoảng 1.045 giao lộ và trên 210 cây cầu các loại, trong đó một số cầu có ý nghĩa chiến lược như cầu Sài Gòn, cầu Bình Triệu, cầu chữ Y,…

      Đường sắt khu vực thành phố và vùng phụ cận tính từ ga Trảng Bom về ga Sài Gòn dài 56 km. Tuyến quan trọng nhất hiện nay là tuyến đường sắt Thống Nhất từ Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh. Một số đoạn đường nhánh chuyên dụng trước đây đến nay hầu như đã ngừng khai thác.

      Các tuyến đường sông goầm có 2 loại. Tuyến đường sông quốc gia (do Trung ương  quan lí, tàu 350 tấn có thể qua lại) dài 37 km; còn tuyến đường sông địa phương (do thành phố quản lí, ghe tàu từ 2 tấn đến 200 tấnm đi lại dễ dàng) có chiều dài hơn 680 km. Về cảng sông có cảng Bình Đông và các bến Tân Thuận, Bình Lợi, Bình Phước, Tôn Thất Thuyết,…với năng lực thông qua cảng khoảng 9 nghìn tấn/năm.

      Tuyến đường biển tính từ cảng Sài Gòn đến phao số 0 dài khoảng 150 km. Từ đây tàu bè có thể đi đến nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Các cảng có khả năng tiếp nhận tàu trọng tải đến 2,5 vạn tấn gồm thương cảng Sài Gòn, cảng Bến Nghé, Tân Cảng và Nhà Bè.

      Về đường hàng không, có rất nhiều đường bay nối Thành phố Hồ Chí Minh với các vùng trong nước và với các nước trên thế giới. Sân bay Tân Sơn Nhất là sân bay quốc tế có tổng diện tích 1,5 nghìn ha (trong đó đã sử dụng 605 ha) với công suất trên 10 triệu lượt khách/năm và có thể tiếp nhận các máy bay cỡ lớn như Boeing 747, 777; Air Bus 320, 300,… 

     - Tình hình vận tải của Thành phố Hồ Chí Minh, nhìn chung phát triển khá nhanh trong những năm gần đây. Điều đó được thể hiện ở bảng thống kê sau:

                        TÌNH HÌNH VẬN TẢI CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    Các loại 1995 2000 2001 2002

    1. Vận tải hàng hoá

    - Khối lượng vận chuyển (nghìn tấn)

    - Khối lượng luân chuyển (triệu tấn/km)

    2. Vận tải hành khách

    - Số lượng vận chuyển (nghìn lượt)

    - Số lượng luân chuyển (triệu lượt/km)

    16.901

    7.015  

    145.370

    3.836

    26.455

    16.055  

    200.725

    6.882

    31.782

    15.237  

    205.867

    7.160

    33.622

    18.300  

    212.457

    8.123

      Vận tải hàng hoá theo các loại phương tiện, khối lượng vận chuyển nghiêng hẳn về đường bộ (hơn 59% năm 2002), còn khối lượng luân chuyển chủ yếu thuốc về đường biển (88,5%). Về vận tải hành khách, đường bộ chiếm ưu thế tuyệt đối (96,3%) theo số lượng vận chuyển và chiếm phần lớn (49,5%) theo số lượng luân chuyển.

      - Về định hướng phát triển của ngành cho đến năm 2010, thành phố tập trung đầu tư xây dựng mạng lưới cầu đường bộ, ưu tiên chương trình đại lộ Đông – Tây và đường hầm Thủ Thiêm, xây dựng tuyến đường sắt trên cao từ Hoà Hưng đi Biên Hoà, tiếp tục nâng cấp sân bay Tân Sơn Nhất thành một trung tâm hàng không của khu vực, chú trọng giải quyết vấn đề giao thông đô thị…

      b) Bưu chính viễn thông

      Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm bưu chính viễn thông hàng đầu của cả nước. Doanh thu của ngành tăng lên tương đối nhanh, từ 1,43 nghìn tỉ đồng năm 199 lên 3 nghìn tỉ đồng năm 2000 và gần 3,85 nghìn tỉ đồng năm 2002.

      Về cơ sở vật chất – kĩ thuật của ngành, toàn thành phố năm 2002 có 192 bưu cục với đường điện thoại trục chính 3,87 nghìn km và đường cáp quang 651 km. Số máy điện thoại tăng nhanh, từ 17,5 vạn chiếc năm 1995 lên gần 1,1 triệu chiếc năm 2002. Đó là chưa kể các loại máy telex, fax,…Số lao động tham gia trong ngành là trên 1 vạn người.

       Để phát triển mạnh hơn ngành dịch vụ này, thành phố đã đề ra một số chỉ tiêu cho đến năm 2010. Theo đó, thành phố có hơn 1,94 triệu chiếc điện thoại, 3 vạn máy fax, 61 vạn máy di động và 30 vạn thuê bao internet,…

      c) Thương mại

      Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm thương mại lớn nhất nước ta. Trong những năm qua, ngành thương mại của thành phố đã phát triển mạnh nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới và phục vụ cho nhu cầu ngày càng cao của nhân dân.

      - Nội thương

      Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ của thành phố tăng khá nhanh, từ 38,84 nghìn tỉ đồng năm 1995 lên 57,99 nghìn tỉ đồng vào năm 2000 và 71,49 nghìn tỉ đồng năm 2002. Về cơ cấu, khu vực tư nhân và cá thể chiếm tới 80%. Điều đặc biệt là ở đây có cả khu vực có vốn đầu tư nuớc ngoài, tuy tỉ trọng còn rất khiên tốn (1,9% năm 2002).

      Về nội thương, dự kiến tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm sẽ đạt 9,6% vào giai đoạn 2001 – 2005 và 13,5% vào giai đoạn 2006 – 2010. Hướng đầu tư của thành phố sẽ tập trung vào việc xây dựng các trung tâm thương mại nội địa (3 loại lớn, 10 loại trung bình, 8 loại nhỏ), trung tâm thương mại quốc tế (dự kiến khoảng 100 ha ở Thủ Thiêm), trung tâm thông tin, hội chợ, triển lãm cũng như chợ đầu mối nông sản, dịch vụ nông nghiệp, giao thông hàng hoá,…

      - Ngoại thương

      + Trong thời kì 1991 – 2000, hoạt động xuất khẩu của Thành phố Hồ Chí Minh tương đối nhộn nhịp, góp phần đáng kể vào sự tăng tưởng và phát triển kinh tế.

      Tốc độ tăng trưởng (kim ngạch xuất khẩu) trung bình năm trong thời kì này đạt gần 23,2% (riêng năm 1996 là 47,4%). Gía trị kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh, từ 1,1 tỉ USD năm 1991 lên 2,6 tỉ USD năm 1995 và gần 6,4 tỉ USD năm 2002.

      Về cơ cấu hàng xuất khẩu, dẫn đầu là hàng công nghiệp (69,6%) năm 2002), sau đó mới đến hàng nông sản, thuỷ sản. Các bạn hàng chủ yêu của thành phố là Hoa Kì (15,9% năm 2002), Nhật Bản (15,5%), Xin-ga-po (10,2%). 

     + Về nhập khẩu, mức tăng trung bình năm trong thời kì 1991 – 2000 là 15,2% (riêng giai đoạn 1991 – 1995 lên đến 24,6%).  Giá trị kim ngạch xuất khẩu của thành phố tăng từ hơn 2,9 tỉ USD năm 1995 lên 3,6 tỉ USD năm 2000 và 4,2 tỉ USD năm 2002. Các mặt hàng nhập khẩu năm 2002 chủ yếu là nguyên, nhiên liệu (77,6%), máy móc thiết bị (12,3%) và hàng tiêu dùng (10,1%). Các nước và lãnh thổ được nhập khẩu nhiều nhất là Xin-ga-po (22,8% năm 2002), Đài Loan (10,3%), Hàn Quốc (8,4%) và Nhật Bản (7,4%). 

     + Trong những năm tới, hoạt động ngoại thương của thành phố sẽ tiếp tục phát triển mạnh. Về xuất khẩu, dự kiến tốc độ tăng trưởng trung bình năm sẽ đạt 22% vào giai đoạn 2001 – 2005 và 20% vào giai đoạn 2006 – 2010. Còn về nhập khẩu, tương ứng sẽ là 17% và 15%.

      d) Đầu tư trực tiếp của nước ngoài

      Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương dẫn đầu cả nước về việc thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Tính từ năm 1988 cho đến hết năm 2002, thành phố đã có 1.249 dự án với số vốn đăng kí trên 11,3 tỉ USD, trong đó vôn pháp định là hơn 5,5 tỉ USD (không kể các dự án đã rút giấy phép). Có thể coi đây là nguồn lực quan trọng góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.

      Việc thu hút đầu tư, nhìn chung, có sự khác nhau giữa các năm. Trong giai đoạn 1993 – 1997, thành phố đã thu hút trung bình năm tới hơn 1 tỉ USD. Riêng năm 1995 – năm cao nhất – đã có 120 dự án với số vốn đăng kí lên đến hơn 2,3 tỉ USD (trong đó có 892 triệu USD vốn pháp định).

      Về quy mô, số dự án dưới 1 triệu USD/dự án có 451, từ 1 – 10 triệu USD/dự án là 638 và trên 10 triệu USD/dự án có 160.

      Về cơ cấu phân theo ngành kinh tế, vốn đầu tư chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp. Lĩnh vực này chiếm 42,6% tổng số vốn đăng kí trong thời kì 1988 – 2002. Tiếp theo là lĩnh vực kinh doanh bất động sản – tư vấn (20,4%), thương nghiệp – khách sạn – nhà hàng 914,4%), vận tải – bưu điện (12,3%).

      Các qốc gia và lãnh thổ dẫn đầu về đầu tư trực tiếp vào Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn qua là Đài Loan (gần 2,2 tỉ USD, chiếm 19,1% tổng số vốn đăng kí với 301 dự án), Hồng Công (gần  tỉ USD, chiếm 17,6% và 111 dự án), Xin-ga-po (hơn 1,4 tỉ USD chiếm 12,8% và 109 dự án). Tiếp theo đó là các nước Pháp (hơn 900 triệu USD), Hàn Quốc (836 triệu USD), Nhật Bản (830 triệu USD), Anh (624 triệu USD), Ô-xtrây-li-a (471 triệu USD),…

      e) Du lịch

      Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm du lịch lớn nhất cả nước. Nơi đây đã hội tụ hàng loạt thế mạnh về vị trí địa lí, tài nguyên du lịch nhân văn, về cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch.

      Về tài nguyên du lịch tự nhiên, đáng lưu ý hơn cả là Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ và một số đoạn trên sông Sài Gòn, Đồng Nai có khả năng khai thác để phục vụ mục đích du lịch.

      Khác với tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn của Thành phố Hồ Chí Minh rất đa dạng, phong phú. Tính từ khi địa danh Sài Gòn xuất hiện năm 1698 thì cho đến nay thành phố đã có hơn 300 tuổi. Là một trong những tỉnh thành phía Nam có mật độ di tích dày đặc, hiện nay trên địa bàn thành phố có khoảng 400 di tích, trong đó có 45 di tích đã được Nhà nước xếp hạng. Thành phố có nhiều di tích cách mạng mà đa số là các địa điểm trước đây Bác Hồ đã sống trước khi đi tìm đường cứu nước, các trụ sở cơ quan của các tổ chức Đảng, Bộ chỉ huy quân đội,…Trong số này, địa đạo Củ Chi, hội trường Thống Nhất là các điểm đón nhiều khách du lịch. Thành phố cũng đầy ấp các di tích kiến trúc nghệ thuật còn lưu giữ được những nét đẹp và cổ kính. Đó là hai khu lăng mộ (lăng Lê Văn Duyệt, lăng Võ Di Nguy), ba ngôi đình, trong đó có đình Bình Hoà được xây dựng vào cuối thế kỉ XIX và có sắc phong của vua Tự Đức năm 1852. Ngoài ra còn phải kể đến nhà thờ Đức Bà, chùa Vĩnh Nghiêm, khu vực “China Town” ở Chợ Lớn với 4 di tích được xếp hạng cũng như quần thể kiến trức châu Âu như Dinh Xã Tây (nay là trụ sở UBND thành phố), Bưu điện, Nhà hát thành phố và các nhà thờ cổ. Thành phố còn có nhiều bảo tàng có khả năng thu hút du khách như Bảo tàng lịch sử, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng thành phố, Bảo tàng chứng tích chiến tranh, Bảo tàng Tôn Đức Thắng, Bảo tàng mĩ thuật, Bảo tàng phụ nữ Nam Bộ, Bảo tàng lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ.

      Lễ hội cũng là một tài nguyên nhân văn có giá trị đối với du lịch. Ngoài những lễ hội có tính chất quốc gia (giỗ tổ Hùng Vương, lễ hội Quang Trung,…), lễ hội dân gian có tính chất vùng (lễ Kỳ Yên, vía bà Thiên Hậu,…), lễ hội tôn giáo (Phật Đản, Vu Lan, Phục Sinh, lễ hội đạo Cao Đài,…), ở thanh phố còn có một số lễ hội của các ngành nghề truyền thống (giỗ tổ nghề kim hoàn, giỗ tổ Hát bội và Cải lương,…). Rõ rang, tài nguyên du lịch của Thành phố Hồ Chí Minh và sự kết hợp giữa thành phố với các tỉnh lân cận sẽ là tiền đề quan trọng để phát triển du lịch.

      Về tình hình phát triển du lịch, nhìn chung, tốc độ tăng trưởng khá cao, tuy không đều. Trong giai đoạn 1991 – 1995, mức tăng GDP bình quân năm đạt 17,5%/năm. Còn giai đoạn 1996 – 2000 do nhiều nguyên nhân, nhất là tác động của cuộc khủng hoảng tài chính, mức tăng chỉ đạt 4,2%.

      Các chỉ tiêu về phát triển du lịch của thành phố đều tăng. Nếu như số khách du lịch quốc tế đến thành phố năm 1995 mới là 85,3 vạn lượt thì năm 2002 lên tới hơn 1,44 triệu lượt, mức tăng trung bình là 10,4%/năm. Tương tự như vậy trong khoảng thời gian nói trên, doanh thu du lịch tăng từ 2.523 tỉ đồng lên 5.361 tỉ đồng với mức tăng bình quân 11,2%/năm.

     Biểu đồ: Số khách quốc tế và doanh thu du lịch của Thành phố Hồ Chí Minh (giai đoạn 1995 – 2002)

      Về cơ sở lưu trú, Thành phố Hồ Chí Minh là nơi tập trung rất nhiều khách sạn và các loại hình lưu trú khác, trong đó nhiều khách sạn đã được xếp sao (từ 1 đến 5 sao). Năm 2002, toàn thành phố có khoảng 493 khách sạn và cơ sở lưu trú (trong đó có 100 doanh nghiệp của Nhà nước) với 14.834 phòng. Trên địa bàn thành phố đã hình thành hàng loạt điểm vui chơi giải trí, trong đó đáng kể nhất là các khu du lịch Đầm Sen, Suối Tiên,…

      Trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam cũng như Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010, thành phố được xác định là trung tâm du lịch hàng đầu của nước ta cần được ưu tiên phát triển để tạo ra sự chuyển biến về chất, đưa du lịch thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố và hỗ trợ cho ngành du lịch của các tỉnh phụ cận. Tốc độ tăng GDP trung bình năm của ngành dự kiến sẽ đạt 5,2% trong giai đoạn 2001 – 2005 và 13,9% trong giai đoạn 2006 – 2010. Du lịch của Thành phố Hồ Chí Minh sẽ có bước phát triển mới với những sản phẩm độc đáo, hấp dẫn khách trong nước và quốc tế.

                                                   TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 

     I- CÁC TÀI LIỆU CỦA TRUNG ƯƠNG

      1. Các niên giám thống kê của Việt Nam từ năm 1995 đến năm 2003. Tổng cục Thống kê. NXB Thống kê, Hà Nội 1996 – 2003.

      2. Tư liệu kinh tế - xã hội chọn lọc từ kết quả 10 cuộc điều tra quy mô lớn 1998 –  2000. NXB Thống kê, Hà Nội, 2001.

      3. Tổng quan quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002.

     II- CÁC TÀI LIỆU CỦA ĐỊA PHƯƠNG

      1. Các niên giám thông kê của 8 tỉnh Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ cho đến năm 2003.

      2. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cho đến năm 2010 của 8 tỉnh.

      3. Các tài liệu khác của các tỉnh.


    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Thanh Long @ 10:26 26/05/2011
    Số lượt xem: 808
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    bg_mod_21jpg