QUỐC KÌ VIỆT NAM

Bác Hồ kính yêu

Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh

Tài nguyên dạy học

Intel Teach Elements

Ảnh ngẫu nhiên

Baner_Tet_1.swf DONG_CO_4_KY.swf Thiep_moi_sinh_nhat_Thanh_Nghi.swf Vi_do_la_em__thanh.swf Ha_thn.swf Chuc_mung_ngay_Quoc_te_phu_nu_thiep_19.swf Su_dung_BDTD_trong_day_hoc.flv Ytuong1.gif Dong_bang_song_Cuu_Long_gap_nhieu_kho_khan_trong_viec_chong_choi_voi_lu.flv 183947901.gif Vn.png Elements.jpg Biakyyeu.jpg Header1.jpg TRANH_THUY_MAC.swf Dhsp1.jpg Ban_goc_Phan_giai_cao_logo_khoa_dia_li_dh_su_pham_tphcm_from_quangphu1ahto_duoi_png_ko_co_nen.png Bcn_khoa_qua_cac_thoi_ki.jpg Hinh_khoa.jpg T_binh.jpg

Tìm kiếm Google

Google

Tìm hiểu lịch sử

Bách khoa toàn thư

Ngày này năm xưa

Đất nước mến yêu

TIVI TRỰC TUYẾN

ĐỌC BÁO

THƯ NGỎ

Quý thầy cô và các em học sinh có muốn ghi nhớ trang này để dễ thuận tiện khi truy cập. Điều đó rất đơn giản chỉ cần quý thầy cô Click
vào đây

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Lê Thanh Long)

Liên hệ

Quản trị: Lê Thanh Long
01656604289
( )

Danh ngôn

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    2 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với website Tư liệu dạy và học môn Địa lý

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái. Cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh Trường THPT Phạm Văn Sáng quyết tâm học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dânmainbanner_500
    Gốc > Địa lý > Bản đồ tư duy > Địa lý >

    Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học Địa lý ởtrường THCS

                                                                          ThS. Vương Thị Phương Hạnh
                                                               Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam

    1. Một số vấn đề về môn Địa lí Trung học cơ sở

    Địa lí là môn học cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, cần thiết về Trái Đất và những hoạt động của con người trên bình diện quốc gia và quốc tế, làm cơ sở cho hình thành thế giới quan khoa học; giáo dục tư tưởng tình cảm đúng đắn; đồng thời rèn luyện cho học sinh các kĩ năng hành động, ứng xử phù hợp với môi trường tự nhiên, xã hội, phù hợp với yêu cầu của đất nước và xu thế của thời đại. Cùng với các môn học khác, môn Địa lí góp phần bồi dưỡng cho học sinh ý thức trách nhiệm, lòng ham hiểu biết khoa học, tình yêu thiên nhiên, con người và đất nước. Theo đó, mục tiêu của môn Địa lí chú trọng đến việc hình thành và rèn luyện cho học sinh các năng lực cần thiết của người lao động mới. Để đạt được mục tiêu này thì cần thiết phải có sự đổi mới sách giáo khoa và phương pháp dạy học một cách phù hợp và tương xứng.

    Quán triệt những đổi mới về mục tiêu, chương trình Địa lí Trung học cơ sở được thiết kế thành 03 mảng lớn có quan hệ chặt chẽ với nhau. Các bộ phận cơ bản này của chương trình có mục đích cung cấp cho học sinh các kiến thức cơ bản về:

    + Trái Đất - Môi trường sống của con người (cấu tạo, vận động, các thành phần tự nhiên và tác động qua lại giữa chúng, một số qui luật của môi trường tự nhiên trên Trái Đất)

    + Thiên nhiên và con người ở các Châu lục (các hoạt động của dân cư trên Trái Đất; mối quan hệ giữa dân cư, hoạt động sản xuất và môi trường, đặc điểm tự nhiên, dân cư, kinh tế - xã hội của một số khu vực, quốc gia trên thế giới).

    + Địa lí Việt Nam (đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, dân cư, kinh tế và những vấn đề đặt ra đối với tự nhiên, dân cư, kinh tế - xã hội của đất nước, của các vùng và địa phương nơi HS đang sống).

    dia_ly_thcs_500

                                      Hình 1: Chương trình Địa lí Trung học cơ sở 

    Tất cả những kiến thức này đều có mối quan hệ qua lại và tác động lẫn nhau, đòi hỏi ở người học không chỉ khả năng tiếp nhận thông tin đơn thuần mà cần biết cách phân tích, so sánh, liên kết các vấn đề để tìm ra kiến thức. Phù hợp với chương trình mới, sách giáo khoa được biên soạn theo hướng tạo điều kiện để giáo viên tổ chức cho học sinh học tập một cách tự giác và tích cực. Nếu như sách giáo khoa cũ được trình bày theo lối thông báo – giải thích – minh họa thì với cách trình bày trong sách giáo khoa mới đòi hỏi giáo viên phải tổ chức các hoạt động nhận thức cho học sinh, phải khai thác kênh chữ, kênh hình để có thêm kiến thức.

    Khi chương trình và sách giáo khoa đã đổi mới, tất yếu phương pháp dạy học bộ môn cũng phải đổi mới theo. Do đó, phương pháp dạy học Địa lí theo định hướng mới, sách giáo khoa mới không chỉ buộc học sinh phải “mới” trong cách học mà còn buộc giáo viên phải “mới” trong cách dạy. Theo đó, giáo viên cần đầu tư nhiều hơn về thời gian và trí tuệ trong bài dạy, vừa để làm rõ những nội dung kiến thức ẩn chứa ở kênh hình, kênh chữ, cũng như tìm ra cách thức và phương pháp nhằm hướng dẫn cho học sinh cách tự khai thác và lĩnh hội kiến thức. Bên cạnh việc chú ý phát triển ở học sinh các kĩ năng bộ môn (kĩ năng làm việc với các thiết bị dạy học, các nguồn tư liệu địa lí...) việc rèn luyện kĩ năng làm việc độc lập, làm việc nhóm, kĩ năng trình bày, giải quyết vấn đề...cũng hết sức quan trọng và đặc biệt là phát triển kỹ năng tư duy.

    2. Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học Địa lí Trung học cơ sở

    Việc phát triển tư duy cho học sinh luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu của mục tiêu giáo dục. Để hướng học sinh có cách thức học tập tích cực và tự chủ, chúng ta không chỉ cần giúp các em khám phá các kiến thức mới mà còn phải giúp các em hệ thống được những kiến thức đó. Việc xây dựng được một “hình ảnh” thể hiện mối liên hệ giữa các kiến thức sẽ mang lại những lợi ích đáng quan tâm về các mặt: ghi nhớ, phát triển nhận thức, tư duy, óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo…Một trong những công cụ hết sức hữu hiệu để tạo nên các “hình ảnh liên kết” là Bản đồ tư duy (BĐTD).  

    BĐTD hiện là một công cụ đang được sử dụng bởi rất nhiều cá nhân, tổ chức trên toàn thế giới với nhiều lĩnh vực ứng dụng khác nhau. Trong giáo dục, sử dụng BĐTD giúp giáo viên và học sinh trong việc trình bày các ý tưởng một cách rõ ràng, suy nghĩ sáng tạo, học tập thông qua biểu đồ, tóm tắt thông tin của một bài học hay một cuốn sách, bài báo, hệ thống lại kiến thức đã học, tăng cường khả năng ghi nhớ, đưa ra ý tưởng mới, lập kế hoạch học tập, kế hoạch công tác…

    BĐTD được sử dụng phù hợp với mọi điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường, lớp học. Giáo viên và học sinh có thể thực hiện BĐTD trên bảng phấn, trên vở, trên giấy, bìa, bảng phụ,… hoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm. Khai thác tính năng và sử dụng BĐTD có hiệu quả là góp phần đổi mới phương pháp dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin một cách dễ dàng và thiết thực.

    Sử dụng thành thạo và linh hoạt BĐTD trong dạy học sẽ mang lại nhiều kết quả tốt và đáng khích lệ. Học sinh học được phương pháp học tập, tăng tính chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy. Với  học sinh, việc tự vẽ BĐTD có ưu điểm là phát huy tối đa tính sáng tạo, lôi cuốn học sinh tham gia vào bài giảng, tạo điều kiện phát triển năng khiếu hội họa, sở thích của học sinh…qua đó, các em tự chiếm lĩnh kiến thức mới một cách nhẹ nhàng, tự nhiên với hứng thú học tập lớn. Với các bài tập nhóm, sử dụng BĐTD còn giúp các em biết cách lập kế hoạch, phân công công việc, hợp tác để hoàn thành yêu cầu của giáo viên.

    Giáo viên sử dụng BĐTD để hệ thống kiến thức một cách khoa học và logic, nội dung bài học được thể hiện trên bản đồ một cách trực quan mà không bị bỏ sót ý. Không những thế, sử dụng BĐTD còn giúp giáo viên tạo ra các hình thức học tập khác nhau, sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, phối hợp sử dụng các thiết bị dạy học với nhau…góp phần thiết thực vào việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay.

    BĐTD có mối quan hệ chặt chẽ và thống nhất với sách giáo khoa. Sách giáo khoa là cơ sở để học sinh tiếp nhận kiến thức, cùng với việc sử dụng và khai thác kiến thức từ thiết bị dạy học giúp học sinh hiểu bài và thể hiện lại sự hiểu biết ấy thông qua BĐTD. Đây còn là một kênh thông tin phản hồi rất thiết thực từ học sinh đối với giáo viên. Giáo viên có thể dựa vào đó để nắm bắt được lượng thông tin mà học sinh tiếp nhận được, từ đó có hướng điều chỉnh đối với cả học sinh và cách dạy của chính mình cho phù hợp.

    Trong giới hạn của nghiên cứu này, chúng tôi giới thiệu một số cách sử dụng BĐTD trong dạy học Địa lí Trung học cơ sở như là một gợi ý để giáo viên tham khảo, vận dụng trong dạy học có kết quả tốt hơn.           

    *  Sử dụng BĐTD trong việc kiểm tra kiến thức cũ

    Vì thời gian kiểm tra bài cũ lúc đầu giờ không nhiều chỉ khoảng 5 - 7 phút nên yêu cầu của giáo viên thường không quá khó, không đòi hỏi nhiều sự phân tích, so sánh…để trả lời câu hỏi. Giáo viên thường yêu cầu học sinh tái hiện lại một phần nội dung bài học bằng cách gọi học sinh lên bảng trả lời câu hỏi. Giáo viên sẽ chấm điểm tuỳ vào mức độ thuộc bài của học sinh. Cách làm này vô tình để nhiều học sinh rơi vào tình trạng học vẹt, đọc thuộc lòng mà không hiểu. Do đó, cần phải có sự thay đổi trong việc kiểm tra, đánh giá nhận thức của học sinh, yêu cầu đặt ra không chỉ kiểm tra “phần nhớ” mà cần chú trọng đến “phần hiểu”. Cách làm này vừa tránh được việc học vẹt, vừa đánh giá chính xác học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng học tập. Sử dụng BĐTD vừa giúp giáo viên kiểm tra được phần nhớ lẫn phần hiểu của học sinh đối với bài học cũ. Các bản đồ được giáo viên đưa ra ở dạng thiếu thông tin, yêu cầu học sinh điền các thông tin còn thiếu và rút ra nhận xét về mối quan hệ của các nhánh thông tin với từ khoá trung tâm.

    Ví dụ: Trước khi học bài 14 (Địa 9), giáo viên yêu cầu 1 học sinh lên bảng điền các thông tin còn thiếu để hoàn thiện BĐTD Cơ cấu ngành dịch vụ (nội dung phần 1 - Bài 13).

    Việc hoàn thiện thông tin ở các nhánh còn thiếu là một yêu cầu đơn giản, không mất thời gian nhưng nếu học sinh không học bài thì sẽ không điền được thông tin hoặc điền không chính xác.

    new_picture_1_03

                                 Hình 2: BĐTD Cơ cấu ngành dịch vụ (thiếu thông tin)

    new_picture_moi

                                 Hình 3: BĐTD Cơ cấu ngành dịch vụ ( đủ thông tin)

    Sau khi đã hoàn thiện bản đồ, học sinh cần rút ra nhận xét về cơ cấu ngành dịch vụ hay nói cách khác là nhận xét về mối quan hệ giữa các nhánh thông tin với từ khoá trung tâm. Đây chính là phần hiểu bài của học sinh mà giáo viên nên căn cứ vào đó để đánh giá và nhận xét.

    * Sử dụng BĐTD trong việc giảng bài mới

    Sử dụng BĐTD là một gợi ý cho cách trình bày mới. Giáo viên thay vì gạch đầu dòng các ý cần trình bày lên bảng thì sử dụng BĐTD để thể hiện được 1 phần hoặc toàn bộ nội dung bài học một cách rất trực quan. Toàn bộ nội dung cần truyền đạt đến học sinh được thâu tóm trên bản đồ mà không bị sót ý. Học sinh thay vì cắm cúi ghi chép thì chọn lọc các thông tin quan trọng, sơ đồ hoá chúng bằng các mối quan hệ và thể hiện lại theo cách hiểu của mình. Với cách học này cả giáo viên và học sinh đều phải tham gia vào quá trình dạy học tích cực hơn. Giáo viên vừa giảng bài vừa thể hiện trên BĐTD hoặc vừa tổ chức cho học sinh khai thác kiến thức vừa hoàn thành BĐTD. Học sinh được nghe giảng, nhìn bản đồ, trả lời câu hỏi, đọc sách giáo khoa, ghi chép…sự tập trung chú ý được phát huy, cường độ học tập theo đó cũng được đẩy nhanh, học sinh học tập tích cực hơn.

    Ví dụ: Bài 6, phần 2 (Địa 9), để xác định các vùng kinh tế của nước ta, phạm vi và các trung tâm kinh tế lớn của vùng là phần kiến thức không khó nhưng không dễ nhớ đối với học sinh. Nếu giáo viên sử dụng phương pháp trình bày truyền thống thì vấn đề vẫn được giải quyết nhưng không hiệu quả vì vấn đề trình bày sẽ dàn trải, hết vùng này đến vùng khác, học sinh sẽ không thấy được mối quan hệ về vị trí, thế mạnh của các vùng kinh tế. Việc thể hiện tất cả các vùng kinh tế trên BĐTD xung quanh từ khóa đã mang lại cái nhìn tổng thể về sự phân chia các vùng kinh tế của nước ta, học sinh nhìn vào bản đồ sẽ nhận biết được ngay từng vùng kinh tế và có thể ghi nhớ một cách dễ dàng không máy móc. Sử dụng BĐTD để thể hiện phần nội dung này là hợp lí vì yêu cầu phù hợp với mọi đối tượng học sinh, thông tin đầy đủ, không mất nhiều thời gian và nội dung được thể hiện rõ ràng.

    new_picture_2_500_03

                                       Hình 4: Bản đồ tư duy Các vùng kinh tế

    Giáo viên nên tổ chức cho học sinh làm việc cá nhân hoặc theo nhóm nhỏ, dựa vào nội dung trong sách giáo khoa, bản đồ trong sách giáo khoa, bản đồ treo tường để hoàn thành bài tập. Giáo viên thể hiện từ khoá trên bảng, yêu cầu học sinh trả lời và điền tiếp thông tin hoặc mỗi học sinh tự vẽ BĐTD vào vở của mình.

    * Sử dụng BĐTD trong việc củng cố kiến thức

    Sử dụng BĐTD để củng cố kiến thức bài học là vệc làm rất có hiệu quả. Giáo viên sử dụng BĐTD để thể hiện lại những nội dung cơ bản của bài học, tránh bị bỏ sót ý, khắc sâu những kiến thức trọng tâm. Học sinh sử dụng BĐTD để thể hiện lại sự hiểu biết của mình qua việc tiếp thu nội dung bài học, đồng thời là một kênh thông tin phản hồi mà qua đó giáo viên có thể đánh giá nhận thức của học sinh, định hướng cho từng học sinh và điều chỉnh cách dạy, cách truyền đạt của mình cho phù hợp.

    Phù hợp với mục đích củng cố kiến thức cho học sinh sau bài học thì dạng bài tập thích hợp là điền thông tin còn thiếu vào BĐTD. Các thông tin còn thiếu này sẽ bao trùm nội dung toàn bài để một lần nữa nhằm khắc sâu kiến thức và lưu ý đến trọng tâm của bài học.

    Ví dụ: Sau khi học xong bài Tự nhiên Đông Á (Địa 8), học sinh phải nắm được các vấn đề về vị trí, phạm vi, địa hình, sông ngòi, khí hậu, các dạng cảnh quan của khu vực này và rút ra nhận xét (điều kiện tự nhiên của khu vực này có những thuận lợi, khó khăn gì, ảnh hưởng như thế nào đến đời sống xã hội, sự phát triển kinh tế…). Những nhận xét này có thể học sinh cần phải trao đổi, thảo luận với nhau, giải đáp với giáo viên hoặc là một gợi ý để giao bài tập về nhà cho học sinh. 

    new_picture_3_500_01

                                           Hình 5: BĐTD Tự nhiên Đông Á

    * Sử dụng BĐTD để ra bài tập về nhà

    Vì làm bài tập về nhà sẽ có nhiều thời gian và điều kiện để tìm kiếm tài liệu nên bài tập về nhà mà giáo viên giao cho học sinh (hoặc nhóm học sinh) trước hết phải gắn với nội dung bài học và trong điều kiện cho phép (trình độ học sinh, thời gian, kinh tế…). Yêu cầu đối với bài về nhà cũng cần khó hơn, phức tạp hơn và cần sự đầu tư lớn hơn (cả kênh chữ, kênh hình, màu sắc, lượng thông tin…), qua đó còn thể hiện cả tính sáng tạo và sự tích cực tìm kiếm tài liệu học tập của học sinh. Bài tập về nhà nên thiên về tính mở nên giáo viên cần định hướng cho học sinh cách tìm kiếm thông tin từ các nguồn tài liệu, đặc biệt là từ mạng Internet bằng cách cung cấp cho học sinh một số trang web thông dụng và chuẩn xác.

    Ví dụ: Sau khi học xong bài 22 (Địa 6), giáo viên yêu cầu học sinh về nhà hoàn thiện lại nội dung bài học trên BĐTD, tìm kiếm thêm thông tin về các đới khí hậu trên Trái đất. Về cơ bản, nội dung bài học được thể hiện lại trên BĐTD như sau:

    new_picture_4_500

                                        Hình 6: BĐTD về các đới khí hậu trên Trái đất

    Sau đó, mỗi học sinh tùy vào năng lực, trình độ và sự sáng tạo của bản thân mình, sẽ thiết kế thêm được các nhánh thông tin bổ trợ cho 4 nội dung chính. Ví dụ đối với mỗi đới khí hậu, học sinh lại có thêm thông tin, hình ảnh về các động vật, thực vật, con người…đại diện cho đới khí hậu đó. Một số trang web có thông tin liên quan đến khí hậu Trái đất mà giáo viên có thể cung cấp cho học sinh như: Công cụ tìm kiếm (//google.com),  Mười vạn câu hỏi vì saohttp://vietsciences1.free.fr/vietscience/docbao/why/muoivancaugoivisao1.htm;  Tổ chức môi trường LHQ (UNEP): www.unep.org;...

    * Sử dụng BĐTD để tổng hợp kiến thức 1 chương hoặc nhiều bài học

    Dùng BĐTD có thể thể hiện một lượng thông tin nhỏ đến lớn và rất lớn. Tương tự, giáo viên và học sinh có thể thể hiện 1 phần nội dung bài học, 1 bài học hoặc nhiều bài học, 1 chương kiến thức. Vấn đề là các nội dung này có điểm chung với nhau, có mối quan hệ với nhau thông qua từ khóa. Tùy theo mục đích sử dụng mà có thể thiết kế BĐTD trong giờ học thông thường, trong giờ kiểm tra, giờ thực hành, ôn tập, tổng kết hay hệ thống 1 chương, 1 phần kiến thức. Với bài tập này, giáo viên có thể cùng học sinh làm ngay tại lớp hoặc là bài tập giao về nhà cho học sinh, nhóm học sinh.

    Ví dụ: Trái đất là một trong chín hành tinh của hệ Mặt trời. Trái đất chuyển động ra sao? Hình dạng, kích thước, cấu tạo của Trái đất như thế nào?...là những nội dung được phản ánh trong Chương I: Trái đất (Địa 6). Những vấn đề đại cương về Trái đất được trình bày khoa học và cụ thể qua từng bài với lượng thông tin tương đối lớn. Khi kết thúc chương này, tuy không có bài tổng kết chương nhưng giáo viên vẫn nên dành thời gian cùng học sinh hệ thống lại các nội dung đã học về Trái đất để thêm một lần nữa khắc sâu kiến thức cho học sinh và củng cố cho các em các vấn đề trọng tâm cần ghi nhớ.

    new_picture_5_500_02

                                                    Hình 6: BĐTD về Trái đất

    Qua BĐTD về Trái đất, học sinh được khắc sâu các nội dung về Trái đất như vị trí của Trái đất trong hệ Mặt trời, cấu tạo bên trong của Trái đất, kích thước, hình dạng, sự vận động quanh trục và quanh Mặt trời cũng như các hệ quả của sự vận động…Với hệ chữ chắt lọc những thông tin quan trọng, hình ảnh minh họa các thông tin một cách sinh động, BĐTD về Trái đất thực sự mang lại cho học sinh cái nhìn trực quan, dễ hiểu, dễ nhớ.

    Không thể phủ nhận BĐTD là một công cụ hữu ích trong giảng dạy và học tập ở trường phổ thông cũng như ở các bậc học cao hơn vì chúng giúp giáo viên và học sinh trong việc trình bày các ý tưởng một cách rõ ràng, suy nghĩ sáng tạo, tích cực và độc lập. Học sinh sẽ học được phương pháp học tập, tăng tính chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy. Giáo viên sẽ tiết kiệm được thời gian, tăng sự linh hoạt trong bài giảng, và quan trọng nhất sẽ giúp học sinh nắm được kiến thức thông qua một “bản đồ” thể hiện các liên kết chặt chẽ của tri thức.

    Nhìn chung, có thể sử dụng BĐTD trong tất cả các khâu của quá trình lên lớp từ kiểm tra bài cũ, triển khai bài mới đến củng cố kiến thức, giao bài về nhà; từ việc thể hiện lượng kiến thức nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp; từ việc học cá nhân đến nhóm, tập thể…Giáo viên cần nghiên cứu nội dung chương trình, nội dung bài học, lựa chọn ra những phần, những bài có khả năng áp dụng BĐTD. Sau đó, giáo viên phân tích nội dung bài dạy, tìm ra những vấn đề, những biểu tượng, khái niệm cần hình thành và truyền đạt cho học sinh, xác định các dạng bài tập với BĐTD phù hợp với đối tượng học sinh, quỹ thời gian, điều kiện trường lớp, trang thiết bị dạy học.

    Tuy nhiên, không phải bất cứ nội dung nào, bài học nào cũng có thể sử dụng BĐTD và cũng không phải sử dụng một cách áp đặt cho mọi giờ học. Cũng như các thiết bị dạy học khác, BĐTD cũng có những ưu điểm và hạn chế riêng của mình, do đó sử dụng BĐTD cần đúng lúc, đúng cách, phù hợp với đối tượng học sinh và quan trọng là đảm bảo việc truyền tải nội dung bài học. Do đó, giáo viên cần có sự linh hoạt trong sử dụng BĐTD, cần xác định một số căn cứ để sử dụng BĐTD cho phù hợp, lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức, thiết bị dạy học cho tương xứng.

    Tài liệu tham khảo 

    1. Trần Đình Châu, Sử dụng bản đồ tư duy - một biện pháp hiệu quả hỗ trợ học sinh học tập môn toán - Tạp chí Giáo dục, kì 2 - tháng 9/2009.

    2. Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy, Tổ chức hoạt động dạy học với bản đồ tư duy, Báo Giáo dục và thời đại, số 184 và 185 năm thứ 51 (tháng 11/2010).

    3. http://vnn.vietnamnet.vn/giaoduc/chuyengiangduong/201011/Ban-do-tu-duy-kieu-hoc-moi-giup-HS-thoat-loi-mon-948273/

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Thanh Long @ 11:39 22/08/2011
    Số lượt xem: 7344
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    bg_mod_21jpg