QUỐC KÌ VIỆT NAM

Bác Hồ kính yêu

Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh

Tài nguyên dạy học

Intel Teach Elements

Ảnh ngẫu nhiên

Baner_Tet_1.swf DONG_CO_4_KY.swf Thiep_moi_sinh_nhat_Thanh_Nghi.swf Vi_do_la_em__thanh.swf Ha_thn.swf Chuc_mung_ngay_Quoc_te_phu_nu_thiep_19.swf Su_dung_BDTD_trong_day_hoc.flv Ytuong1.gif Dong_bang_song_Cuu_Long_gap_nhieu_kho_khan_trong_viec_chong_choi_voi_lu.flv 183947901.gif Vn.png Elements.jpg Biakyyeu.jpg Header1.jpg TRANH_THUY_MAC.swf Dhsp1.jpg Ban_goc_Phan_giai_cao_logo_khoa_dia_li_dh_su_pham_tphcm_from_quangphu1ahto_duoi_png_ko_co_nen.png Bcn_khoa_qua_cac_thoi_ki.jpg Hinh_khoa.jpg T_binh.jpg

Tìm kiếm Google

Google

Tìm hiểu lịch sử

Bách khoa toàn thư

Ngày này năm xưa

Đất nước mến yêu

TIVI TRỰC TUYẾN

ĐỌC BÁO

THƯ NGỎ

Quý thầy cô và các em học sinh có muốn ghi nhớ trang này để dễ thuận tiện khi truy cập. Điều đó rất đơn giản chỉ cần quý thầy cô Click
vào đây

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Lê Thanh Long)

Liên hệ

Quản trị: Lê Thanh Long
01656604289
( )

Danh ngôn

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    2 khách và 1 thành viên
  • Phạm Thị Nhàn
  • Chào mừng quý vị đến với website Tư liệu dạy và học môn Địa lý

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái. Cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh Trường THPT Phạm Văn Sáng quyết tâm học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dânmainbanner_500
    Gốc > Địa lý > Phương pháp dạy học Địa lý > Atlat địa lí Việt Nam > Một số vấn đề chung >

    2. NỘI DUNG CÁC TRANG TRONG ATLAT ĐỊA LÍ VIỆT NAM (tt)

    6. Bản đồ Các miền tự nhiên (trang 9 và trang 10)

    Các miền tự nhiên được biểu hiện trên bản đồ là: miền Bắc và Đông Bắc Bộ, miền Tây bắc và Bắc Trung bộ, miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ.

    Nội dung được thể hiện trong bản đồ các miền tự nhiên là địa hình (bao gồm các yếu tố: hướng, độ cao) và yếu tố có liên quan chặt chẽ với địa hình là sông ngòi. Địa hình trên bản đồ được thể hiện bằng phương pháp đường bình độ kết hợp với phương pháp phân tầng độ cao nhằm làm nổi bật sự khác nhau của các miền địa hình. Trên bản đồ còn thể hiện rõ phần bờ biển, phần thềm lục địa và các đảo, quần đảo ven bờ thuộc các miền tự nhiên này. Ngoài ra trên bản đồ các miền tự nhiên còn thể hiện các ngọn núi bằng phương pháp điểm độ cao với các kí hiệu hình tam giác và trị số độ cao bên cạnh.

    Trên bản đồ các miền tự nhiên, còn có các lát cắt A – B, C – D, A – B – C thể hiện các hướng cắt địa hình, độ cao cũng như các dạng địa hình đặc trưng của từng miền.

    7. Bản đồ Dân số (trang 11 và 12)

    Nội dung chủ yếu của bản đồ này là thể hiện mật độ dân số, các điểm dân cư và các biểu đồ thể hiện tình hình dân số Việt Nam qua các năm, kết cấu dân số theo giới tính và theo độ tuổi, cơ cấu sử dụng lao động theo ngành.

    - Mật độ dân số được biểu hiện bằng phương pháp nền số lượng. Các thang mật độ dân số được lựa chọn (mật độ càng thấp thì màu càng nhạt, mật độ càng cao thì màu càng đậm) phản ánh đặc điểm phân bố của dân cư của Việt Nam. Dân cư tập trung chủ yếu ở đồng bằng, thưa thớt ở trung du, miền núi. Ở đồng bằng tập trung khoảng 75% dân số, mật độ dân số cao. Ở vùng trung du, miền núi mật độ dân số thấp hơn nhiều so với đồng bằng, trong khi vùng này tập trung nhiều tài nguyên thiên nhiên quan trọng của đất nước.

    - Trên nền mật độ dân số, các điểm dân cư đô thị được thể hiện theo quy mô dân số và cấp đô thị. Phương pháp thể hiện các điểm dân cư đô thị là phương pháp kí hiệu với dạng kí hiệu hình học. Quy mô dân số của các điểm dân cư được thể hiện thông qua kích thước và hình dạng kí hiệu với bậc thang số lượng cấp bậc quy ước. Cấp đô thị được thể hiện theo kiểu chữ, từ đô thị cấp đặc biệt đến các đô thị loại 1, 2, 3, 4 và 5. Chẳng hạn, thông qua kiểu chữ chúng ta nhận dạng được Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt ; Đà Nẵng là đô thị loại 1 ; Cần Thơ, Biên Hòa, Quy Nhơn…là đô thị loại 2.

    8. Bản đồ Dân tộc (trang 12)

    Nội dung thể hiện chính trên bản đồ là cộng đồng các dân tộc Việt Nam thông qua sự phân bố của các dân tộc theo ngữ hệ và nhóm ngôn ngữ. Ngoài ra trên bản đồ còn thể hiện cơ cấu các nhóm dân tộc Việt Nam.

    Nội dung các ngữ hệ trên bản đồ được thể hiện bằng phương pháp nền chất lượng. Mỗi ngữ hệ được biểu hiện bằng một màu khác nhau. Ví dụ, ngữ hệ Hmông – Dao được thể hiện bằng màu cam, ngữ hệ Nam Đảo là màu đỏ đậm...Các nhóm ngôn ngữ trên bản đồ thể hiện bằng phương pháp vùng phân bố trên các phạm vi lãnh thổ nhất định.

    9. Bản đồ Nông nghiệp chung (trang 13)

    Nội dung trên bản đồ thể hiện bao gồm các yếu tố hiện trạng sử dụng đất, các vùng nông nghiệp, các cây trồng và vật nuôi chính; cùng các biểu đồ phụ thể hiện giá trị sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản.

    - Hiện trạng sử dụng đất trên bản đồ nông nghiệp chung được thể một cách khá nổi bật thông qua phương pháp vùng phân bố với nền màu khác nhau. Mỗi nền màu thể hiện một loại đất khác nhau bao gồm đất trồng cây lương thực, thực phẩm và cây công nghiệp hàng năm; đất trồng cây công nghiệp lâu năm; đất lâm nghiệp có rừng; mặt nước nuôi trồng thủy sản; đất nông lâm kết hợp.

    - Cây trồng vật nuôi được thể hiện trực quan bằng phương pháp vùng phân bố với các kí hiệu cây con được khái quát hoá cao theo 7 vùng. Ví dụ cây chè và trâu là cây trồng vật nuôi chủ yếu của vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ, lợn và lúa là thuộc vùng đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long, cà phê và cao su là cây trồng chính của Tây Nguyên...

    - Bảy vùng nông nghiệp có ranh giới xác định với kí hiệu chữ số La-mã lần lượt từ I đến VII bao gồm: I – Trung du và miền núi Bắc Bộ; II – Đồng bằng sông Hồng; III – Bắc Trung Bộ; IV – Duyên hải Nam Trung Bộ; V – Tây Nguyên; VI – Đông Nam Bộ; VII – Đồng bằng sông Cửu Long.

    10. Bản đồ Một số phân ngành nông nghiệp (trang 14)

    Nội dung thể hiện trên các bản đồ một số phân ngành nông nghiệp trang 14 đề cập tới hai nhóm ngành chính là trồng trọt (lúa, hoa màu và cây công nghiệp) và chăn nuôi.

    - Bản đồ lúa thể hiện các nội dung về diện tích và sản lượng lúa của các tỉnh, diện tích trồng lúa so với diện tích trồng cây lương thực. Diện tích và sản lượng lúa của các tỉnh được thể hiện bằng phương pháp bản đồ - biểu đồ (Cartodiagram) với biểu đồ cột. Trong đó, biểu đồ cột màu xanh thể hiện diện tích, mỗi milimét tương ứng với 50.000 ha; cột màu cam thể hiện sản lượng lúa, mỗi milimét tương ứng với 1000.000 tấn. Thông qua đó có thể tích được diện tích và sản lượng lúa của từng tỉnh. Diện tích trồng lúa so với diện tích cây lương thực được thể hiện bằng phương pháp đồ giải (Cartogram). Từ bản đồ này có thể nhận định được các vùng trọng điểm lúa (Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long), các tỉnh có sản lượng lúa lớn nhất (Kiên Giang, An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Long An)...

    - Bản đồ hoa màu thể hiện hai nội dung chủ yếu là tỉ lệ diện tích gieo trồng hoa màu so với tổng diện tích trồng cây lương thực và sự phân bố của các cây hoa màu chính như ngô, khoai, sắn. Nội dung thứ nhất là tỉ lệ diện tích gieo trồng hoa màu so với tổng diện tích trồng cây lương thực được thể hiện bằng phương pháp đồ giải (Cartogram). Các tỉnh có diện tích hoa màu so với diện tích cây lương thực lớn nhất là Tây Nguyên, Tây Bắc và một số tỉnh thuộc vùng Đông Bắc (trên 40%). Nội dung thứ hai được biểu hiện bằng phương pháp vùng phân bố. Ở đây có sự phù hợp giữa các vùng trồng nhiều hoa màu cũng chính là các vùng có diện tích hoa màu so với diện tích cây lương thực lớn.

    - Bản đồ cây công nghiệp thể hiện một trong hai nội dung chính là tỉ lệ diện tích gieo trồng cây công nghiệp so với diện tích gieo trồng và được thể hiện bằng phương pháp đồ giải (Cartogram). Nền màu càng đậm, tỉ lệ diện tích gieo trồng cây công nghiệp càng cao. Nội dung thứ hai thể hiện sự phân bố của một số loại cây công nghiệp như mía, lạc, bông, thuốc lá (cây công nghiệp ngắn ngày) và cây công nghiệp như chè, hồ tiêu, cà phê, cao su...(cây công nghiệp dài ngày).

    - Bản đồ chăn nuôi đề cập đến hai nội dung chính là số lượng gia súc, gia cầm của các tỉnh và số lượng gia súc bình quân. Số lượng gia súc, gia cầm được thể hiện bằng phương pháp bản đồ - biểu đồ (Cartodiagram), với các biểu đồ cột và biểu đồ nửa tròn. Độ cao của các cột biểu hiện số lượng trâu và số lượng bò; độ lớn của biểu đồ nửa tròn biểu hiện số lượng trên theo đơn vị tỉnh. Thông qua các đơn vị quy ước (1mm ứng với 50.000 con trâu bò, và các quy ước kích thước lớn nhỏ khác nhau của biểu đồ nửa tròn) có thể tính được số lượng gia súc và gia cầm cửa từng tỉnh. Nội dung thứ hai là số lượng gia súc tính bình quân được thể hiện bằng phương pháp đồ giải (Cartogram). Nền màu càng đậm thì bình quân số gia súc trên số dân (100 người) càng cao.

    11. Bản đồ Lâm nghiệp và thủy sản (trang 15)

    - Nội dung của bản đồ thể hiện hai ngành lâm nghiệp và thủy sản bao gồm: tỉ lệ diện tích rừng so với diện tích toàn tỉnh, quy mô giá trị sản xuất lâm nghiệp của các tỉnh, sản lượng thuỷ sản đánh bắt và nuôi trồng của các tỉnh và thành phố, các bãi cá tôm và sản lượng thuỷ sản của cả nước qua các năm.

    - Tỉ lệ diện tích rừng so với diện tích toàn tỉnh được thể hiện bằng phương pháp đồ giải (Cartogram) với 4 cấp độ màu khác nhau tính theo đơn vị %. Màu càng đậm tỉ lệ diện tích càng cao. Giá trị sản xuất lâm nghiệp của các tỉnh và thành phố được thể hiện bằng phương pháp bản đồ - biểu đồ (Cartodiagram) với các thang quy ước từ dưới 25 tỉ đồng đến trên 200 tỉ đồng.

    - Sản lượng thuỷ sản đánh bắt và nuôi trồng được thể hiện bằng phương pháp bản đồ - biểu đồ (Cartodiagram) với biểu đồ cột. Cột cột màu xanh thể hiện sản lượng thuỷ sản nuôi trồng, cột màu đỏ là sản lượng thuỷ sản đánh bắt. Dựa vào các đơn vị quy ước, có thể tính được giá trị sản lượng đánh bắt của từng tỉnh (với quy ước 1mm chiều cao ứng với 2000 tấn) . Trên bản đồ này sản lượng thuỷ sản đánh bắt và nuôi trồng của các tỉnh, thành phố quá chênh lệch nên ở một số địa phương sản lượng không thể hiện theo đúng tỉ lệ mà có sự phi tỉ lệ hoặc ngắt quãng với giá trị được biểu hiện trên đầu cột. Các bãi cá, bãi tôm được biểu hiện bằng phương pháp vùng phân bố.

    12. Bản đồ Công nghiệp chung (trang 16)

    Nội dung chủ yếu của trang bản đồ thể hiện những đặc điểm chung của công nghiệp Việt Nam và sự phân hoá lãnh thổ công nghiệp.

    - Các trung tâm công nghiệp, các điểm công nghiệp theo giá trị sản xuất được biểu hiện bằng phương pháp kí hiệu, phương pháp này cho phép định vị chính xác vị trí địa lí của các trung tâm và điểm công nghiệp, đồng thời thể hiện được cả quy mô và cơ cấu ngành của từng trung tâm công nghiệp. Quy mô của các trung tâm công nghiệp được tính theo giá trị sản xuất thông qua bốn bậc quy ước từ 1 – 2,9 nghìn tỉ đồng; 3 – 9,9 nghìn tỉ đồng; 10 – 50 nghìn tỉ đồng và trên 50 nghìn tỉ đồng. Trong các vòng tròn còn có kí hiệu các ngành công nghiệp được biểu hiện bằng các kí hiệu hình học và kí hiệu trực quan. Thông qua các bậc và kí hiệu này, người đọc có thể tìm hiểu được sự phân hóa lãnh thổ công nghiệp:

    + Ở Bắc Bộ, Đồng bằng sông Hồng và vùng phụ cận là khu vực có mức độ tập trung công nghiệp vào loại cao nhất trong cả nước. Từ Hà Nội, hoạt động công nghiệp với chuyên môn hóa khác nhau lan tỏa theo nhiều hướng dọc các tuyến giao thông huyết mạch. Đó là hướng Hải Phòng – Hạ Long – Cẩm Phả (cơ khí – khai thác than), Đáp Cầu – Bắc Giang (vật liệu xây dựng, phân hóa học), Đông Anh – Thái Nguyên (cơ khí, luyện kim), Việt Trì – Lâm Thao (hóa chất – giấy), Hòa Bình – Sơn La (thủy điện), Nam Định – Ninh Bình – Thanh Hóa (dệt – may, điện, xi măng).

    + Ở Nam Bộ hình thành dải công nghiệp, trong đó nổi lên các trung tâm công nghiệp hàng đầu của nước ta như Thành phố Hồ Chí Minh (lớn nhất cả nước về giá trị sản xuất công nghiệp), Biên Hòa, Vũng Tàu (hai trung tâm lớn) và Thủ Dầu Một. Hướng chuyên môn hóa ở đây rất đa dạng, trong đó có một vài ngành công nghiệp tương đối non trẻ, nhưng lại phát triển mạnh như khai thác dầu khí, sản xuất điện từ khí.

    + Dọc theo duyên hải miền Trung, ngoài Đà Nẵng là trung tâm công nghiệp quan trọng nhất, còn có một vài trung tâm khác (Vinh, Quy Nhơn, Nhà Trang...).

    - Ngoài ra, ở trong trang 16 còn có biểu đồ cột thể hiện giá trị sản xuất công nghiệp từ năm 1995 – 2000 và hai biểu đồ tròn phản ánh giá trị sản xuất công nghiệp phân theo thành phần kinh tế và giá trị sản xuất công nghiệp phân theo nhóm ngành công nghiệp (năm 2000). Các biểu đồ làm cho người đọc hiểu sâu sắc hơn về các khía cạnh của nền công nghiệp Việt Nam.

    13. Bản đồ Một số phân ngành công nghiệp (trang 17)

    - Bản đồ này bao gồm ba nhóm ngành: công nghiệp năng lượng, công nghiệp luyện kim, cơ khí, điện tử – tin học, hoá chất và công nghiệp hàng tiêu dùng, thực phẩm.

    - Nội dung chính thể hiện trên bản đồ công nghiệp năng lượng là các nhà máy thủy điện, nhiệt điện, các cụm diezen, các nhà máy thuỷ điện đang xây dựng, các mỏ than, mỏ dầu đang khai thác, hệ thống đường dây tải điện (500 KV, 200 KV) và các trạm biến áp. Trên bản đồ này ngoại trừ hệ thống đường dây tải điện được thể hiện bằng phương pháp kí hiệu tuyến, các đối tượng còn lại đều được thể hiện bằng phương pháp kí hiệu. Ngoài ra còn có các biểu đồ: thể hiện sản lượng dầu thô, than sạch, điện và tỉ trọng của công nghiệp năng lượng trong tổng giá trị sản xuất của toàn ngành công nghiệp. Đây là những nội dung nhằm thể hiện rõ thêm sự phát triển của ngành công nghiệp năng lượng Việt Nam.

    - Bản đồ công nghiệp luyện kim, cơ khí, điện tử - tin học, hoá chất thể hiện quy mô giá trị sản xuất công nghiệp của ngành. Quy mô giá trị sản xuất được chia thành bốn cấp: cấp 1 có giá trị từ 150 – 500 tỉ đồng; cấp 2 từ 501 – 2000 tỉ đồng; cấp 3 từ 2001 – 4000 tỉ đồng; cấp 4 trên 4000 tỉ đồng. Các ngành công nghiệp trong mỗi trung tâm được thể hiện bằng phương pháp kí hiệu trực quan.

    - Bản đồ công nghiệp hàng tiêu dùng, công nghiệp thực phẩm thể hiện các trung tâm công nghiệp của ngành theo quy mô giá trị sản xuất với bốn cấp: cấp 1 từ 150 – 500 tỉ đồng; cấp 2 từ 501 – 2000 tỉ đồng; cấp 3 từ 2001 – 4000 tỉ đồng và cấp 4 trên 4000 tỉ đồng. Các ngành công nghiệp trên bản đồ được biểu diễn bằng các kí hiệu trực quan.

    14. Bản đồ Giao thông (trang 18)

    Nội dung chủ yếu của bản đồ thể hiện các loại hình giao thông ở nước ta bao gồm đường sắt, đường bộ, đường biển, đường hàng không... và các công trình phục vụ giao thông như sân bay, bến cảng... Các loại hình giao thông được thể hiện trên bản đồ theo phương pháp kí hiệu dạng đường (tuyến); còn các sân bay, bến cảng được thể hiện theo phương pháp kí hiệu.

    Thông qua bản đồ này, có thể thấy rằng ngành giao thông ở nước ta phát triển khá toàn diện, với nhiều tuyến đường huyết mạch trên phạm vi cả nước như: Quốc lộ 1A chạy suốt từ cửa khẩu Hữu nghị quan (Lạng Sơn) đến Năm Căn (Cà Mau) dài 2300 km, là tuyến đường xương sống của cả hệ thống đường bộ nước ta, nối các vùng kinh tế (trừ Tây Nguyên) và hầu hết các trung tâm kinh tế lớn của nước ta; Đường sắt Thống Nhất (Hà Nội – TP Hồ Chí Minh) dài 1726 km, chạy theo chiều dài đất nước, gần như song song với Quốc lộ 1A, tạo nên một trục giao thông quan trọng theo hướng Bắc – Nam. Ngoài ra còn có thể khai thác về sự phân bố của các cảng biển và cụm cảng quan trọng như: Hải Phòng, Cái Lân, Đà Nẵng – Liên Chiểu – Chân Mây, Dung Quất, Nha Trang, Sài Gòn – Vũng Tàu; hoặc các sân bay có ý nghĩa quốc tế (sân bay Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng...) và các sân bay nội địa (Điện Biên, Cát Bi, Vinh...)

    15. Bản đồ Thương mại (trang 19)

    Trang 19 có 2 bản đồ là bản đồ thương mại tỉ lệ 1:9.000.000 và bản đồ ngoại thương, tỉ lệ 1:180.000.000.

    - Bản đồ Thương mại tập trung phản ánh ba nội dung chính. Thứ nhất là tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ các tỉnh tính theo đầu người bằng phương pháp đồ giải (Cartogram) với gam màu nóng thay đổi sắc độ từ vàng nhạt (mang giá trị dưới 1 triệu đồng) đến sắc độ hồng nhẹ (mang giá trị là trên 5 triệu đồng). Thứ hai là tổng số người kinh doanh thương nghiệp và dịch vụ của các tỉnh bằng phương pháp bản đồ - biểu đồ (Cartodiagram) với biểu đồ nửa hình tròn theo 4 bậc thang quy ước. Thứ ba là giá trị xuất nhập khẩu của các tỉnh bằng phương pháp bản đồ - biểu đồ (Cartodiagram) với biểu đồ cột bao gồm cột thể hiện giá trị xuất khẩu và cột thể hiện giá trị nhập khẩu, với giá trị tương ứng quy ước trong bản đồ.

    - Bản đồ Ngoại thương thể hiện kim ngạch buôn bán giữa Việt Nam và các nước bằng phương pháp bản đồ - biểu đồ (Cartodiagram) với biểu đồ hình tròn theo bậc thang quy ước bao gồm giá trị dưới 100 triệu, từ 100 – 500 triệu, từ 501 – 1000 và từ 1000 – 2000 và trên 2000 triệu USD.

    - Ngoài ra, còn có các nội dung phụ của hai bản đồ này. Đó là: Cơ cấu giá trị hàng xuất, nhập khẩu của nước ta năm 2000; Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ của cả nước giai đoạn 1995 – 2000 và tình hình xuất, nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 1996 – 2000.

    16. Bản đồ Du lịch (trang 20)

    Nội dung của bản đồ thể hiện các tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn của nước ta trên nền của bản đồ địa hình. Các trung tâm du lịch được thể hiện bằng phương pháp kí hiệu với các vòng tròn có kích thước lớn thể hiện trung tâm du lịch quốc gia (Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh); còn các trung tâm du lịch vùng được biểu hiện bằng các vòng tròn có bán kính nhỏ hơn (Hải Phòng, Hạ Long, Vinh, Nha Trang, Đà Lạt, Vũng Tàu, Cần Thơ...). Các tài nguyên du lịch (tự nhiên và nhân văn) với tư cách là điểm du lịch được biểu hiện bằng phương pháp kí hiệu tượng trưng. Ngoài ra, trên bản đồ còn có các biểu đồ thể hiện số lượng khách và doanh thu từ du lịch, cơ cấu nguồn khách du lịch quốc tế nhằm làm rõ hơn thực trạng hoạt động của ngành du lịch nước ta trong giai đoạn 1990 – 2000.

    17. Bản đồ Các vùng kinh tế (trang 21, 22, 23, 24)

    Từ trang 21 đến trang 24, Atlat thể hiện bảy vùng kinh tế của nước ta với tỉ lệ thống nhất là: 1:3.000.000. Cụ thể là:

    - Trang 21: 2 vùng (Trung du và miền núi Bắc Bộ, Đồng bằng sông Hồng);

    - Trang 22: 1 vùng (Bắc Trung Bộ);

    - Trang 23: 2 vùng (Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên);

    - Trang 24: 2 vùng (Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long).

    Đối với mỗi vùng đều có hai bản đồ: tự nhiên và kinh tế (năm 2000). Bản đồ tự nhiên thể hiện các thành phần của tự nhiên trong đó chủ yếu là địa hình, thủy văn, sinh vật (các bãi cá) và khoáng sản. Bản đồ kinh tế (năm 2000) phản ánh hiện trạng sử dụng đất (nền bản đồ) và các ngành kinh tế chủ yếu. Ngoài ra còn có nội dung phụ (biểu đồ tròn) thể hiện GDP của mỗi vùng so với cả nước ở thời điểm năm 2000.


    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Thanh Long @ 10:10 05/10/2011
    Số lượt xem: 1759
    Số lượt thích: 1 người (Trần Ngọc Linh)
     
    Gửi ý kiến

    bg_mod_21jpg