QUỐC KÌ VIỆT NAM

Bác Hồ kính yêu

Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh

Tài nguyên dạy học

Intel Teach Elements

Ảnh ngẫu nhiên

Baner_Tet_1.swf DONG_CO_4_KY.swf Thiep_moi_sinh_nhat_Thanh_Nghi.swf Vi_do_la_em__thanh.swf Ha_thn.swf Chuc_mung_ngay_Quoc_te_phu_nu_thiep_19.swf Su_dung_BDTD_trong_day_hoc.flv Ytuong1.gif Dong_bang_song_Cuu_Long_gap_nhieu_kho_khan_trong_viec_chong_choi_voi_lu.flv 183947901.gif Vn.png Elements.jpg Biakyyeu.jpg Header1.jpg TRANH_THUY_MAC.swf Dhsp1.jpg Ban_goc_Phan_giai_cao_logo_khoa_dia_li_dh_su_pham_tphcm_from_quangphu1ahto_duoi_png_ko_co_nen.png Bcn_khoa_qua_cac_thoi_ki.jpg Hinh_khoa.jpg

Tìm kiếm Google

Google

Tìm hiểu lịch sử

Bách khoa toàn thư

Ngày này năm xưa

Đất nước mến yêu

TIVI TRỰC TUYẾN

ĐỌC BÁO

THƯ NGỎ

Quý thầy cô và các em học sinh có muốn ghi nhớ trang này để dễ thuận tiện khi truy cập. Điều đó rất đơn giản chỉ cần quý thầy cô Click
vào đây

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Lê Thanh Long)

Liên hệ

Quản trị: Lê Thanh Long
01656604289
( )

Danh ngôn

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 2 thành viên
  • Nguyễn Thị Huệ
  • Hoàng Thị Thơm
  • Chào mừng quý vị đến với website Tư liệu dạy và học môn Địa lý

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái. Cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh Trường THPT Phạm Văn Sáng quyết tâm học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dânmainbanner_500
    Gốc > Việt Nam > Đông Bắc Bộ > Yên Bái >

    Yên bái

    ĐỊA LÍ YÊN BÁI

     

    I - VỊ TRÍ ĐỊA LÝ , PHẠM VI LÃNH THỔ VÀ SỰ PHÂN CHIA HÀNH CHÍNH

    1. Vị trí lãnh thổ

    Yên Bái là một tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa, thuộc vùng Đông Bắc. Lãnh thổ của tỉnh nằm trong hệ toạ độ từ 21016'32" vĩ độ bắc và từ 103o56'26" kỉnh độ đông. Về phía bắc, Yên Bái giáp tỉnh Lào Cai, phía nam giáp tỉnh Phú Thọ, phía đông giáp các tỉnh Tuyên Quang, Hà Giang, phía tây giáp Sơn La.

    Diện tích tự nhiên của cả tỉnh là 6882,92 km2 với số dân 682,171 người ( năm 1999). Yên Bái đứng thứ 15 về diện tích (2,08%) và thứ 50 về số dân ( 0,89%) trong tổng số 61 tỉnh thành của cả nứơc.

    Với vị trí địa lí như vậy Yên Bái có những thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội. Tuy nằm sâu trong nội địa nhưng Yên Bái lại là đầu mối và trung độ của một số tuyến giao thông quan trọng. Đây là một trong những cửa ngõ đi vào Tây Bắc và nằm trên trục giao thông giữa Tây Bắc và Đông Bắc. Yên Bái nằm ở khoảng giữa quốc lộ 2 nối Hà Nội và các tỉnh của đồng bằng sông Hồng với cửa khẩu Lào Cai và từ đây qua Hà Khẩu sang thành phố Côn Minh thuộc tỉnh Vân Nam ( Trung Quốc)

    Về mặt kinh tế, Yên Bái nằm trên trục đường của hành lang Hà Nội - Lào Cai và có thể dễ dàng giao lưu với các tỉnh trong nước và với Trung Quốc. Ngày nay trong công cuộc đổi mới, Yên Bái ngày càng khẳng định vị trí trung tâm của mình trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh miền núi phía bắc

    Tuy nhiên, việc nằm sâu trong nội địa cùng với địa hình miền núi it nhiều cũng gây ra một số khó khăn trong việc thiết lập các mối quan hệ kinh tế ở trong và ngoài tỉnh.

    2.Sự phân chia hành chính

    Tỉnh Yên Bái được thành lập năm 1900, địa bàn khi đó gồm: huyên Trấn Yên và châu Văn Chấn. Tỉnh lị đặt tại Yên Bái.

    Sau khi đất nước tái thống nhất, Yên Bái cùng với Lào Cai và Nghĩa Lộ sáp nhập thành tỉnh Hoàng Liên Sơn. Ngày 13-8-1991, theo nghị quyết kỳ họp thứ 9 của Quốc hội khoá VII, tỉnh Hoàng Liên Sơn được tách thành hai tỉnh: Yên Bái, Lào Cai. Lúc này, Yên Bái nhận thêm 3 huyện: Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Trải của Nghĩa Lộ cũ và chuyển hai huyện: Văn Bàn, Bảo Yên sang tỉnh Lào Cai.

    Về mặt hành chính, Yên Bái hiện nay có hai thị xã(thị xã- tỉnh lị Yên Bái và thị xã Nghĩa Lộ), 7 huyện (Lục Yên, Mù Căng Chải, Trạm Tấu, Trấn Yên, Văn Chấn, Văn Yên, Yên Bình) với 159 xã, 11 phường và 10 thị trấn(6 thị trấn huyện, 3 thị trấn nông trường, 1 thị trấn công ghiệp)

    Các đơn vị hành chính của tỉnh Yên Bái

    Các huyên thị

    Diện tích

    (km2)

    Số đơn vị hành chính

    Số xã

    Số phường

    Số thị trấn

    Cả tỉnh

    Thị xã Yên Bái

    Thị xã Nghĩa Lộ

    Huyện Lục Yên

    Huyện Văn Yên

    Huyện Mù Căng Chải

    Huyện Trấn Yên

    Huyện Yên Bình

    Huyện Văn Chấn

    Huyện Trạm Tấu

    6882,922

    58,020

    10,935

    806,948

    1388,840

    1199,330

    690,741

    762,108

    1223,906

    742,022

    159

    4

    0

    23

    26

    13

    28

    23

    31

    11

    11

    7

    -

    -

    -

    -

    -

    -

    -

    -

    10

    -

    -

    1

    1

    1

    1

    2

    3

    1

    Trong 159 xã, hiện có 70 xã vùng cao (đã được Nhà nước công nhận), chiếm 67,56% diện tích tự nhiên và hơn 44% tổng số xã trong tỉnh, trong đó có 61 xã đặc biệt khó khăn.

    II - ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

    1.Địa hình, khoáng sản

    a)Địa hình

    Yên Bái là vùng chuyển tiếp từ trung du (Phú Thọ) lên khu vực núi (Lào Cai). Địa hình thấp dần từ tây bắc xuống đông nam. Nơi thấp nhất ở xã Minh Quân huyện Trấn Yên (20m) và nơi cao nhất là đỉnh Pu Luông (1985 m).

    Địa hình chủ yếu là núi non trùng điệp. Trên địa bàn của tỉnh có 3 dãy núi lớn chạy theo hướng tây bắc - đông nam. Phía tây là dãy Hoàng Liên Sơn – Pu Luông kẹp giưa sông Hồng và sông Đà. Đây là dãy núi trẻ, đỉnh nhọn, độ cao trung bình của các ngọn núi tới 1700 – 2800m, độ dốc 400 – 700, sườn bị cắt xẻ mạnh. Tiếp theo là dãy núi cổ Con Voi nằm giũa sông Chảy và sông Hồng với đội cao trung bình 400 – 1400 m, đỉnh tròn, sườn thoải. Phía đông là hệ thống núi đá vôi nằm giưa sông Chảy và sông Lô, độ cao trung bình 400 – 800 m. Xen kẽ với núi đồi là địa hình thung lũng, bồn địa, đồng bằng giữa núi. Đáng kể nhất là các bồn địa Mường Lò (Văn Chấn), Đại Phú An (Văn Yên), Mường Lai (lục Yên)...

    Về mặt địa hình, có thể chia làm hai tiểu vùng.

    - Tiểu vùng cao: Độ cao trung bình của tiểu vùng là trên 600m, gồm 70 xã, chiếm 67,5% diện tích tự nhiên của cả tỉnh. Do địa hình núi cao nên dân cư thưa thớt, chủ yếu là dân tộc ít người (H’Mông, Dao, Khơ mú...). Nền kinh tế chậm phát triển, trình độ dân trí thấp, tập quán canh tác phần nhiều gắn với phát lương làm rẫy, một số bộ phận sống du canh, du cư, kết cấu hạ tầng thiếu, đời sống vật chất và tinh thần gặp nhiêu khó khăn. Tiềm năng (đất, rừng, khoáng sản...) tương đối phong phú, nhưng việc khai thác còn rất nhiều hạn chế.

    - Tiểu vùng thấp: Có độ cao trung bình dưới 600m, bao gồm khu vực núi thấp và các bồn địa, thung lũng dọc sông suối, chiếm 32,5% diện tích toàn tỉnh. Dân cư tương đối trù mật, đa phần là người Kinh, Tày, Nùng Thái. Nền kinh tế của tỉnh chủ yếu dựa vào khai thác các thế mạnh của tiểu vùng với diện tích đất nông nghiệp nhiều, kết cấu hạ tầng tương đối tốt, trình độ dân trí cao...

    Về phương diện địa hình, Yên Bái có nhiều thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế – xã hội theo hướng tây bắc - đông nam dọc thung lũng các con sông. Trong khi đó, các mối liên hệ kinh tế theo hướng bắc – nam (107 km trong phạm vi của tỉnh) và đông – tây (125km) hết sức khó khăn do núi cao, đèo dốc.

    b) Khoáng sản

    Trên lãnh thổ của Yên Bái có nhiều đối nham tướng được giới hạn bởi các  đứt gãy sâu sông Hồng, sông Đà, Sông Chảy, trải qua các chu kỳ tạo sơn lớn kèm hoạt đông mác ma xâm nhập và phún xuất mạnh. Vì thế, tài nguyên khoáng sản tương đối phong phú với nhiều vỏ nội sinh và ngoại sinh. Tuy nhiên, các mỏ thường thuộc loại nhỏ, không có khả năng khai thác trên quy mô lớn.

    - Cho đến nay đã phát hiện được 153 điểm mỏ thuộc các nhóm khoáng sản sau đây:

    - Nhóm năng lượng (18 điểm mỏ) gồm than nâu, than antraxit, than bùn, đá chứa dầu...Than có trữ lượng khoảng 78 vạn tấn (đã khai thác được 16 vạn tấn). Than nâu, than lửa dài phân bố ven sông Hồng, sông Chảy mà tiêu biểu là các mỏ Hoàng Thắng, Hồng Quang. Tham antraxit tập trung ở huyện Văn Chấn, phía bắc huyện Văn Yên và đang được khai thác ở Suối Quyền (Văn Chấn).

    - Nhóm vật liệu xây dựng (42 điểm mỏ) bao gồm đã vôi, đá ốp lát, sét, cát sỏi...,phân bố tương đối rộng rãi.

    - Nhóm khoáng chất công nghiệp (39 điểm mỏ) tương đối đa dạng, từ nguyên liệu làm phân bón, hoá chất cho đến nguyện liệu kĩ thuật. Đáng chú ý là đá quý và bán đá quý, phân bố chủ yếu ở huyện Lục Yên.

    - Nhóm kim loại (41 điểm mỏ) có đầy đủ các loại, từ kim laọi đen (sắt), kim loại màu (đồng, chì, kẽm) đến kim loại quý (vàng), nhưng trữ lượng nhỏ và chỉ có ý nghĩa địa phương.

    -Nhóm nước khoáng (13 điểm) phân bố chủ yếu ở phía tây, trên địa bàn các huyện Văn Chấn, Trạm Tấu.

    2. Đất đai

    a) Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh tài liệu điều tra gần đây nhất của Sở Địa chính, đất của Yên Bái gồm 8 nhóm:

    - Nhóm đất phù sa có diện tích 9171,16 ha (1,33% diện tích cả tỉnh) phân bố ở các khu vực có sông, suối lớn (sông Hồng, sông Chảy...). Có giá trị kinh tế là các bồn địa lớn như Mường Lò (Văn Chấn), Lục Yên. Nhóm đất này thích hợp với việc trồng cây lương thực (lúa, ngô), cây công nghiệp ngắn ngày (mía, lạc, đậu tương...).

    - Nhóm đất glây với diện tích 4227,97 ha (0,61%) tạp trung ở các vùng trũng, thấp; thuận lợi cho canh tác lúa nước, nhưng cần bón thêm lân và vôi.

    - Nhóm đất đen với diện tích 902,51 ha (0,13%) hình thành trên các thung lũng và ven núi đá vôi, có khả năng trồng màu (sắn), cây công ngăn ngày và lúa nước (ở vùng trũng).

    - Nhóm đất xám chiếm ưu thế tuyệt đối với 566.953,69 ha (82,37%) ở độ cao dưới 1800 m, tập trung chủ yếu ở Văn Chấn, Văn Yên, Mù Căng Chải. Nhóm đất này phù hợp với cây công nghiệp dài ngày (chè) và cây ăn quả, đối với các khu vực có độ dốc dưới 250.

    - Nhóm đất đỏ có diện tích 12.103,19 ha (1,76%) phân bố ở các vùng đá vôi, mác ma bazơ thuộc các huyện Lục Yên, Trạm Tấu, Văn Chấn, rất thích hợp với một số cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả.

    - Nhóm đất mùn alit ở độ cao hơn 1800 m, với diện tích 55.078,28 ha (8,0%) tập trung ở các huyện vùng cao (Văn Chấn, Mù Căng Chải, Trạm Tấu), chủ yếu là trồng rừng phòng hộ.

    - Nhóm đất có tầng đất mỏng, diện tích 1824,61 ha (0,2%) thuộc các huyện Lục Yên, Văn Yên, Văn Chấn.

    - Các loại đất có diện tích 38.080,86 ha (5,54%).

    b) Về hiện trạng sử dụng đất, do là một tỉnh miền núi với 55,6% diện tích tự nhiên có độ dốc vượt quá 250 nên đất nông nghiệp ít. Số đất đai chưa sử dụng còn rất lớn, khoảng hơn 33 van ha, chiêm 48% diện tích cả tỉnh. TRong số này, đất có khả năng khai thác phục vụ cho lâm nghiệp lên tới 305.620 ha và cho nông nghiệp là 1972 ha

    Hiện trạng sử dụng đất của Yên Bái

    Các loại

    Diện tích (ha)

    So với diện tích tự nhiên(%)

    Đất nông nghiệp

    Đất có rừng

    Đất chuyên dùng

    Đất thổ cư

    Đất chưa sử dụng

    Tổng cộng

    66.692,4

    258.741,7

    28.491,6

    3696,8

    330.669,7

    688.292,2

    9,69

    37,59

    4,14

    0,54

    48,04

    100,00

    3. Khí hậu

    a)Trên nền nhiệt đới ẩm gió mùa, khí hậu của Yên Bái ít nhiều chịu tác động của địa hình núi cao, phức tạp. Một và chỉ số trung bình năm như sau: tổng nhiệt độ 75000 – 80000C, nhiệt độ 220 – 230C, lượng mưa 1500 – 2200 mm, độ ẩm 83 – 87%.

    Yên Bái có hai mùa rõ rệt.

    Mùa hạ bắt đầu từ tháng IV đến X. Đây là thời kỳ nóng ẩm, nhiệt độ trung bình trên 250C(tháng nóng nhất 370 – 380C).Mưa nhiều, thường kèm gió xoáy gây lũ quét, ảnh hưởng lớn đến đời sống và sản xuất. Sự phân bố mưa và lượng mưa chịu tác động rõ nét của địa hình. Lượng mưa giảm từ đông sang tây. Dọc theo thung lũng sông Hồng, mưa giảm dần từ đông nam đến tây bắc. Do ảnh hưởng của dãy Hoàng Liên Sơn nên vào mùa hạ, sườn tây ít mưa hơn sườn đông và phía tây có gió Lào.

    Mùa đông kéo dài từ tháng XI đến tháng III năm sau. Ở vùng cao, mùa đông đến sớm hơn và kết thúc muộn hơn so với vùng thấp. Ở những nơi có độ cao trên 1500m hầu như không có mùa hạ, nhiệt độ thường dưới 200C. Trên vùng núi cao có nơi nhiệt độ dưới 00C, có sương muối và tuyết. Vào đầu mùa đông (tháng XII,I) thường xảy ra hạn hán, vào cuối mùa lại dầm dề mưa phùn.

    b) Về đại thể, có thể chia Yên Bái thành 2 tiểu vùng khí hậu:

    - Tiểu vùng phía đông có ranh giới dãy Hoàng Liên Sơn. Đặc trưng của vùng là chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, mưa nhiều (1800 – 2000 mm/năm), nhiệt độ trung bình 210 – 220C. Nhìn chung, khí hậu ở đây thích hợp với cây lương thực – thực phẩm, cây công nghiệp, cây ăn quả và nuoii trồng – thủy sản. Tiểu vùng này phân hoá thành hai khu vực:

    + Khu vực nam Trấn Yên, Văn Yên, thị xã Yên Bái, Ba Khe thuộc thung lũng sông Hồng, có độ cao trung bình 70m.Ở đây có nhiệt độ bình quân 230 – 240C, lượng mưa 1800 – 2200 mm/năm (nơi mưa phùn nhiều nhất tỉnh). Khu vực này có khả năng phát triển cây lương thực – thực phẩm, cây công nghiệp và cây ăn quả.

    + Khu vực Lục Yên – Yên Bình có độ cao dưới 300m, thuộc thung lũng sông Chảy, với ranh giới là dãy Con Voi. Do có hồ Thác Bà nên khí hậu điều hoà hơn và thuận lợi cho việc phát triển cây nông lâm nghiệp, thuỷ sản và du lịch.

    - Tiểu vùng phía tây gồm các huyện thị ở phía tây của tỉnh (Mù Căng Chải, Trạm Tấu, Văn Chấn, thị xã Nghĩa Lộ), độ cao trung bình trên 700 – 800 m. Ít chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, nhưng lại có gió Tây Nam nóng và khô thổi tới. Vì thế, nét tiêu biểu là nắng nhiều, mưa tương đối ít và khí hậu có tính cận nhiệt. Tiểu vùng này có sự phân hoá thành ba khu vực:

    + Khu vực Mù Căng Chải với độ cao trung bình 900m, là nơi nắng nhiều nhất trong tỉnh, chịu ảnh hưởng mạnh của gió Tây Nam. Tổng nhiệt độ bình quân hàng năm là  6500 – 70000C, nhiệt độ trung bình 18 – 200C (mùa đông có thể xuống dưới 00C), lượng mưa 1800 – 2000mm, có khả năng phát triển một số cây trồng cận nhiệt và ôn đới.

    + Khu vực tây nam Văn Chấn có độ cao trung bình 800m, phía bắc mưa nhiều nhưng phía nam lại ít mưa nhất tỉnh, nhiệt độ trung bình 18 – 200C , mùa đông lạnh, lượng mưa 1800mm, thích hợp cho cây cận nhiệt và ôn đới.

    + Khu vực Văn Chấn – Tú Lệ với độ cao trung bình 250 – 400 m, trồng cây lương thực (bồn địa Mường Lò 2200 ha), cây công nghiệp đặc biệt là cây chè tuyết, cây ăn quả.

    4. Thuỷ văn

    a) Mạng lưới sông ngòi của Yên Bái tương đối phong phú. Chảy trên lãnh thổ của tỉnh là hai hệ thống sông lớn (sông Hồng, sông Chảy) và hàng trăm ngòi, suối lớn nhỏ khác nhau. Mật độ trung bình 1,15 km/km2.

    Sông Hồng bắt nguồn từ Nguỵ Sơn (Trung Quốc) ở độ cao 1766 m chảy qua Lào Cai, Yên Bái... và đổ và biển Đông. Đoạn chảy qua Yên Bái dài khoảng 100km với độ dốc 0,23 m/1 km.

    Sông Chảy khởi nguồn từ dãy núi Côn Lĩnh (Trung Quốc) ở độ cao 2419 m chậy theo hướng đông bắc – tây nam. Dòng sông nhỏ, sâu, chảy xiết Môđun dòng chảy bình quân là 30,5 1/s/km2. Vùng hạ lưu sông Chảy có hồ và nhà máy thuỷ điện Thác Bà.

    Yên Bái còn nhiều ngòi, sưới. Tiêu biểu là ngòi Thia đã đi vào thơ ca, bắt nguồn từ núi Pu Sa Phìn (2874 m) thuộc huyện Trạ Tấu, chảy qua Văn Chấn, Văn Yên rồi đổ và ssông Hồng. Sản phẩm bồi đắp là hai cánh đồng tương đối rộng Mường Lò (Văn Chấn) và Đại Phú An (Văn Yên). Ngoài ra còn ngòi Bút từ núi Khai Kim cao 2007 m (Tú Lệ, Văn Yên), ngòi Lâu từ núi Bo Co 1639 m (Hồng Ca, Trấn Yên), ngòi Nghĩa Đô, ngòi Lũng Co (Lục Yên)...

    Nhìn chung, các ngòi, suối ở Yên Bái đều bắt nguồn từ núi cao nên dốc dòng cahỷ xiết, lưu lượng thay đổi thất thường, hay gây lũ đột ngột, nhưng lại chá ssựng nguồn thuỷ năng phong phú.

    b) Bên cạnh hệ thống sông suối, ở Yên Bái có 20.913 ha mặt nước hồ ao với ý nghĩa quan trọng với thuỷ điện, sản xuất nông, lâm ngư nghiệp và giao thông vận tải.

    Đáng kể nhất là hồ thuỷ điện Thác Bf nằm trong lưu vực sông Chảy, thuộc huyện Yên Bình và một phần huyện Lục Yên. Hồ được khởi công năm 1962, hoàn thành năm 1970 với mục đích chính là phục vụ cho nhà máy thuỷ điện với công suất 108MW. Chiều dài của hồ là 80km, rộng 8 – 12 km, có chỗ sâu tới 42 m, với dung tích 2,9 tỉ m3. ở mức nước thiết kế cao nhất hồ có diện tích 23.400 ha, trong đó 19.050 ha mặt nước và 4350 ha là đảo (1331 hòn đảo).

    Ngoài ra, còn có đâm Ván Hội (Trấn Yên) à một số hồ chứa nước khác.

    c) Yên Bái có nguồn nước dưới đất tương đối phong phú, phân bố đều, ở độ sâu 20 – 200 m trong các nham trầm tích bở rời Đệ Tứ. Tuy nhiên, tài nguyên này chưa được điều tra cặn kẽ. Trong tỉnh có nguồn nước khoáng nóng, phân bố ở phía tây, thuộc địa bàn huyện Văn Chấn, Trạm Tấu (đới Tú Lệ). Tổng khoáng hoá 1 – 5g/ 1, nhiệt độ (tại các điểm lộ) trên 400C, có thể khai thác dùng làm đồ uống chữa bệnh.

    5. Rừng

    Rừng là tài nguyên gắn bó trực tiếp với cuộc sống của đông đảo đồng bào cá dân tộc ở Yên Bái từ bao đời nay. Trước kia Yên Bái là tỉnh có tiềm năng lớn nhất về rừng. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, rừng đã bị suy giảm nghiêm trọng. Chỉ tính từ năm 1978 đến năm 1994, diện tích rừng tự nhiên giảm tới 60% (183.956 ha). Trung bình mỗi năm giảm đi 13.139 ha, gấp khoảng 1,5 lần diện tích trồng mới.

    Trong những năm gần đây, tình hìng có khả quan hơn. Tính đến thời điểm 31-12-1999, toàn tỉnh có 258,9 nghìn ha rừng bao gồm 180,4 nghìn ha rừng tự nhiên và 78,5 nghìn ha rừng trồng, độ che phủ đạt 37,6%. Trữ lượng gỗ các loại hiện có khoảng 17,2 triệu m3 và hơn triệu cây tre, vầu, nứa...

    Đối với các loại rừng, trữ lượng gỗ trung bình tính trên 1 ha như sau : rừng trung bình có 156 m3 , rừng nghèo 81 m3 , rừng tái sinh 34 m3 , rừng hỗn giao 67 m3 . Đối với rừng nứa thuần, trữ lượng đạt 5143 cây/ha, còn rừng vầu thuần 2976 cây/ha.

    Rừng của Yên Bái còn nhiều loại gỗ quý (đinh, lim, sến, táu. lát. pơmu...). Trữ lượng gỗ của rừng tự nhiên chủ yếu tập trung ở các huyện Lục Yên, Văn Yên, Trấn Yên, Văn Chấn, Trạm Tấu. Rừng gỗ trồng phần lớn ở các vùng giấy sợi, rừng phòng hộ đầu nguồn.

    Trong rừng, giới động vật khá phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, động vật dưới tán rừng bị suy giảm do việc săn bắn bừa bãi.

    III – DÂN CƯ

    1. Số dân và động lực dân số

    Năm 1999 số dân của Yên Bái có 682.171 người, chiếm 0,89% dân số cả nước và đứng thứ 50 trong 61 tỉnh thành. So với năm 1991 (khi tái lập tỉnh) đã tăng thêm được 86.059 người.

    Trên bình diện cả nước, quy mô dân số của tỉnh thuộc loại nhỏ. So với các tỉnh Đông Bắc, Yên Bái xếp trên Bắc Cạn, Cao Bằng, Lào Cai, Hà Giang và tương đương với tỉnh Tuyên Quang.

    Tốc độ gia tăng dân số vào loại thấp vầ có chiều hướng liên tục giảm. Từ năm 1992 trở về trước, tỉ suất tăng dân số tự nhiên trung bình năm vượt quá 1992 trở về trước, tỉ suất tăng dân số tự nhiên trung bình năm vượt quá 2%. Từ năm 1993 đến nay, nhờ thực hiện kết quả chương trình Dân sô - kế hoạnh hoá gia đình, dân số tăng chậm và đạt mức 1,54% năm 1999.

    Số dân Yên Bái phân theo các huyện thị năm 1999 (người)

    Các huyện thị

    Số dân

    Trong đó phân theo

    Trong đó phân theo

    nam

    nữ

    nam

    nữ

    Cả tỉnh

    Thị xã Yên Bái

    Thị xã Nghĩa Lộ

    Huyện Lục Yên

    Huyện Văn Yên

    Huyện Mù Căng Chải

    Huyện Trấn Yên

    Huyện Yên Bình

    Huyện Văn Chấn

    Huyện Trạm Tấu

    862.171

    73.626

    18.414

    96.231

    106.305

    38.179

    93.503

    96.733

    139.923

    19.257

    338.913

    36.225

    9129

    47.627

    53.376

    18.909

    46.487

    48.702

    68.914

    9544

    37.401

    9285

    48.604

    52.929

    19.270

    47.016

    48.031

    71.009

    9713

    343.258

    134.857

    61.912

    18.414

    6589

    9796

    1955

    5280

    13.739

    15.318

    1854

    547.314

    11.714

    -

    89.642

    96.509

    36.224

    88.223

    82.994

    124.605

    17.403

    Trong thập kỉ vừa qua, mức sinh và mức tử đều giảm, song mức sinh giảm nhanh hơn. Tỉ suất sinh thô của tỉnh từ 29,28%0 năm 1991 giảm xuống 21,94%0 năm 1999 (nghĩa là giảm 7,34%0). Cũng trong thời gian trên, tỉ suất tử thô giảm có 1,6%0 (từ 8,13 %0 xuống 6,53%0). Điều này chứng tỏ rằng, bên cạnh công tác Dân số - kế hoạnh hoá gia đình, việc chăm sóc sức khoẻ và điều kiện sống của đồng bào các dân tộc đã được cải thiện đáng kể.

    Tỉ suất, tử, gia tăng tự nhiên của Yên Bái thời kì 1991 – 1999

    Năm

    Tỉ suất sinh thô(0/00)

    Tỉ suất tử thô(0/00)

    Tỉ suất tăng tự nhiên(0/00)

    1991

    1992

    1993

    1994

    1995

    1996

    1997

    1998

    1999

    29,28

    28,19

    27,24

    26,37

    25,48

    24,58

    23,69

    22,84

    21,94

    8,13

    8,01

    8,06

    8,05

    7,96

    7,56

    7,23

    6,78

    6,53

    2,115

    2,018

    1,918

    1,832

    1,752

    1,702

    1,656

    1,606

    1,541

    Mức sinh, tử và gia tăng từ nhiên có sự phân hoá rõ rệt giữa khu vực thành thị và khu vực nông thôn, giữa vùng cao với vùng thấp.

    Trong khi mức tử giữa thành thị và nông thôn chênh lệch nhau không nhiều (1,98%0 năm 1991 và 1,40%0 năm 1999). Năm 1999 tỉ suất sinh thô ở khu vực nông thôn gấp hai lần so với khu vực thành thị ( nông thôn là 24,25%0 và thành thị là 12,56%0). Sự chênh lệch lớn về mức sinh tất yếu dẫn đến tốc độ tăng dân số tự nhiên khác nhau rõ rệt giữa hai khu vực. Tỉ suất tăng dân số tự nhiên khác nhau rõ rệt giữa hai khu vực. tỉ suất tăng dân số tự nhiên ở nông thôn cao hơn ở thành thị từ 1,9 lần (2,332 % so với 1,238% năm 1991) đến hơn 2,4 lần (1,754% so với 0,167% năm 1999). Khoảng cách này, ngày càng tăng và khó có thể thu hẹp lại.

    Cũng tương tự như vậy là sự khác nhau giữa các huyện vùng cao và các huyện vùng thấp. Tỉ suất sinh và gia tăng tự nhiên ở vùng cao như các huyện mù căng chải, trạm tấu đều lớn hơn so với vùng thấp.

    Từ thực tế này, cần phải có những biện pháp đẩy mạnh việc phát triển kinh tế và mặt khác, làm tốt hơn nữa công tác Dân số – kế hoạnh hoá gia đình ở khu vực nông thôn, đặc biệt là ở vùng cao.

    2. Kết cấu dân số

    a)                        Kết cấu theo độ tuổi và giới tính

    - Yên Bái là một tỉnh có dân số trẻ. Điều này được thể hiện ở chỗ nhóm người dưới 15 tuổi chiếm tỉ lệ khá cao, trong khi đó nhóm người từ 60 tuổi trở lên chiếm tỉ lệ rất thấp. Số người trong độ tuổi lao động niều. Năm 1999, con số này là 327.268 người, chiếm 48,1% dân số của tỉnh.

    - Về kết cấu dân số phân theo giới tính, ở Yên Bái số nữ nhiều hơn số nam chút ít. Tỉ lệ này có sự thay đổi theo thời gian song không lớn. Năm 1991 nữ giớ chiếm 51,2% tổng số dân, còn lại nam giới là 48,8%. Đến năm 1999, tương quan này là 50,3% và 49,7%.

    Trong số 9 huyện thị của Yên Bái thì chỉ có hai huyện số nam nhiều hơn số nữ (1999). Đó là huyện văn yên (nam giới 50,2%, nữ giới 49,8%)và huyện yên bình (nam giới 50,3%, nữ giới 49,7%).

    b)                        Kết cấu dân tộc

    Yên Bái là địa bàn cư chú lâu đời của 31 dân tộc anh em. Là một tỉnh đa dân tộc, nơi đây tập trung tới 57,4% tổng số các dân tộc của nhà nước.

    Về quy mô dân số, có 7 dân tộc với số dân của mỗi dân tộc trên 10.000 người (kinh, tày,h’mông, thái, mường, nùng), hai dân tộc có từ 2000 đến 5000 người, 3 dân tộc có từ 500 đến 2000 người. Tổng số dân của 19 dân tộc còn lại không quá 1000 người.

    Đông nhất là người kinh tới 53% dân số cả tỉnh. Người kinh chủ yếu tập trung sống ở thị xã Yên Bái (96,3% số dân của thị xã), nghĩa lộ, trấn yên (77,5%), yên bình (62.2%), văn yên (60%), văn chấn (42%). Ngoài ra ở lục yên (21%), trạm tấu (7,5%), mù căng chải (4%).

    Người tày chiếm 17,6% dân số của tỉnh;trong đó có 40% cư trú ở lục yên (53% dân số toàn huyện), còn lại là ở các huyện trấn yên, yên bình, văn yên và văn chấn. Người dao với 9,3% dân số toàn tỉnh, trong đó 35% sinh ống ở văn yên, sau đó ở lục yên, yên bình, văn trấn, trấn yên. Người h’mông chiếm 8,1% số dân toàn tỉnh, tập trung ỏ vùng cao phia tây (91% dân số mù căng chải, 75% dân số trạm tấu).Người tahí với 6,1% dân số, trong đó 89% cư trú ở văn trấn. Nguòi muờng chiếm 1,9% dân số, phân bố ở các huyện phia tây của tỉnh. Người nùng với 1,9% dân số, sinh sống chủ yếu ở lục yên, yên bình.

    Các dân tộc ở Yên Bái sống đoàn kết, mang tính cộng đồng cao. Trên địa bàn của tỉnh Yên Bái còn giữ lại nhiều di tích in đậm truyền thống đấu tranh bất khuât chống gặc ngoại xâm. Một trong những di tích đó gắn liền với cuộc khởi nghĩa Yên Bái của nguyễn thái học và các đồng chí của ông.

    c)                        Kết cấu xã hội

    - Kết cấu dân số theo lao động có liên quan tới tốc độ gia tăng dân số và cơ cấu kinh tế của Yên Bái.

    Số dân trong độ tuổi lao động năm 1999 của tỉnh là 327.268 người (48,1% dân số), có thể chia làm hai nhóm: nhóm không tham gia hoạt động kinh tế(học sinh, lực lượng vũ trang...) có 25.330 ngàn người, chiếm 7,74% tổng số lao động trong độ tuổi và nhóm còn lại với 301.938 người (92,26).

    Riêng đối với nhóm thứ hai, lại có thể phân chia tiếp thành: số người chưa có việc làm (6800 người, chiếm 2,25%), số người thiếu việc làm thường xuyên (30.827 người – 10,02%) và số người có việc làm thường xuyên (264.311 người – 87,54%).

    Như vậy, số người chưa có việc làm thiếu việc làm thường xuyên năm 1999 của Yên Bái chiếm 11,49% nguồn lao động của tỉnh.

    Về cơ cấu sử dụng lao động phân chia theo các ngành của tỉnh Yên Bái, phần lớn tập trung vào khu vực I (nông lâm, ngư nghiệp).Tỉ trọng lao động ở khu vực II (cong nghiệp – xây dựng) và khu vực III (dịch vụ) tương đối thấp. Trong những năm gần đây đã có sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng giảm tỉ trọng khu cực I, tăng tỉ trọng của khu vực II và khu vực III, nhưng nhìn chung còn chậm.

    Cơ cấu sử dụng lao động ở Yên Bái hời kỳ 1995 – 2000 (%)

    Các ngành

    1995

    1999

    2000

    (sơ bộ)

    Nông, lâm, ngư nghiệp

    Công nghiệp – xây dựng

    Dịch vụ

    74,8

    10,0

    15,2

    81,3

    7,6

    11,1

    78,8

    8,8

    12,4

    Về cơ cấu sử dụng lao động phân theo thành phần kinh tế, dẫn đầu là khu vực ngoài quốc doanh (90%), sau đó là khu vực quốc doanh (9,9%) và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (0,1%).

    - Là tỉnh miền núi với cọng đồng dân tộc trong điều kiện nền kinh tế chậm phát triển, trình độ dan trí của nhân dân nhnf chung còn thấp. Về trình độ của người lao động, năm 1999 số đã qua đào tạo chỉ chiếm 16,1%, số còn lại chưa qua đào tạo là 83,9%.

    So với tổng số lao động có chuyên môn kỹ, số người có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học chiếm 24,8%; số người có trình độ sơ cấp, công nhân kĩ thuật là 60,5%(năm 1999).

    3.Phân bố dân cư

    Dân cư của yênbái phân bố không đồng dều giữa các huyện thị, giữa thành thị với nông thôn, giữa vùng thấp với vùng cao.

    Giữa hai cuộc tổng điều tra dân số gần đây, mật độ dân số trung bình của Yên Bái từ 86 người/km2 năm 1989 đã tăng lên 99 người/km2 năm 1999. có thể phân chia ra 3 khu vực với mật độ dân số khác nhau rõ rệt. Dân cư trù mật nhất tập trung ở hai thị xã (thị xã nghĩa lộ 1684 người/km2, thị xã Yên Bái 1269 người/km2, 1999). khu vực có mật độ dân số trung bình là các huyện Trấn Yên (135 người/km2), yên bình(127 người/km2), , lục yên(119 người/km2), , văn chấn(114 người/km2), , văn yên(77 người/km2). Hai huyện dân cư thưa thớt là mù căng trải(32 người/km2),  và trạm tấu(26 người/km2). Như vậy, nơi dân cư tập trung đông nhất (nghĩa lộ) so với dân cư thưa thớt nhất trong tỉnh (trạm tấu) chênh lệch nhau tới 64,8 lần.

    Theo địa hình, dân cư của Yên Bái phân bố trên 3 khu vực với mật độ khác nhau. ở khu vực thung lũng sông Hồng, dân cư đông đúc và ciếm khoảng 41% dân số cả tỉnh ( người kinh 76%, người Tày 11%, người dao 10% số dân toàn khu vực). Khu thung lũng sông Chảy chiếm 28% số dân cả tỉnh (người kinh 43%, người Tày 33%, người nùng 13%, người dao 10% số dân cả khu vực). Khu vực phía tây với 31% dan số của tỉnh, người kinh hơn 33%, người h’mông 24%, người thái 19,2%, người tày gần 12% số dân của khu vực).

    Theo độ cao, nguòi kinh, tày, nùng, thái, mường cư trú cộng đồng thành các bản làng ở vùng thấp với dân cư trù mật. Ngược lại, các sườn núi hoặc núi cao là địa bàn sinh sống của người h’mông, dao, với dân cư thưa thớt.

    Về mức độ đô thị hoá, dân thành thị của Yên Bái chiếm 19,8% dân số cả tỉnh(1999). Mặc dù thấp hơn mức bình quân của cả nước (23,47%), nhưng tỉ lệ vẫn được xếp vào hàng thứ ba trong số các tỉnh trung du vad miền núi phía bắc, sau quảng ninh và thái nguyên.

    4. Giáo dục, y tế

    a) Giáo dục

    Sự nghiệp giáo dục ở Yên Bái phát triển tương đối mạnh, v ững chắc từ giáo dục mầm non đến giáo dục chuyên nghiệp.

    Tính đến năm học 1999 – 2000 cả tỉnh có 55 trường mầm non (1287 giáo viên và 20.530 cháu), 162 trường tiểu học (4678 giáo viên và 101.739 học sinh), 153 trường trung học cơ sở (2723 giáo viên và 50.137 học sinh), 24 trường trung học phổ thông (5 trường trung học cơ sở và trung học phổ thông, 13 trường trung học phổ thông và 6 trường trung học phổ thông bán công) với 645 giáo viên và 17.140 học sinh.

    Giáo dục dạy chuên nghiệp có 22 cơ sở (cao dẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, trung tâm hướng nghiệp – dạy nghề). Năm học1999 – 2000 có 1581 học sinh cao đẳng và đại học 2975 học sinh trung học chuyên nghiệp, 859 học sinh học dạy nghề...

    Tỉ lệ huy động các cháu đến trường tương đối khá. Đối với giáo dục mầm non là 20% số cháu từ 0 – 5 tuổi, giáo dục tiểu học là 91% số cháu 6 – 10 tuổi, trung học cơ sở là 62,3% số từ 11 – 14 tuổi và trung học phổ thông la 28,5% số từ 15 – 17 tuổi. Năm 1999, trên 1 vạn dâ trung bình có 2482 học sinh.

    Yên Bái rất chú ý đến công tác phổ cập giáo dục – chống mù chữ. Cả tỉnh hiện có 160 xã phường đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục (88,8% tổng số xã phường),  20 xã phường đạt tiêu chuẩn phổ cập trung học cở sở ( 11%)

    Cơ cấu giá trị sản xuất lâm nghiệp của Yên Bái

     thời kì 1991 - 1999 ( giá hiện hành)

    Năm

    tổng số

    chia ra

    triệu đồng

    %

    Trồng và nuôi rừng

    Khai thác gỗ

    Lâm nghiệp khác

    triệu đồng

    %

    Triệu đồng

    %

    Triệu đông

    %

    1991

    62978

    100,0

    4776

    7,58

    53001

    84,16

    5201

    8,26

    1993

    102778

    100,0

    13809

    13,43

    82242

    80,02

    6727

    6,55

    1995

    151836

    100,0

    22334

    14,71

    108310

    71,33

    21192

    13,96

    1997

    180679

    100,0

    33207

    18,38

    128803

    71,29

    18669

    10,33

    1999

    213405

    100,0

    22025

    10,32

    173375

    81,24

    18005

    8,84

    Từ năm 1995 đến nay , diện tích trồng rừng bình quân hàng năm dao động trong khoảng 9 -11 nghìn ha. Năm cao nhất đạt 11. 296 nghìn ha ( 1998) và năm thấp nhất đạt 6070 nghìn ha ( 1999). Ngoài ra còn trồng cây phân tán 1,1 - 1,8 nghìn ha / năm. Đáng chú ý là rừng quế đạt 18 nghìn ha năm 1999

    Sản lượng gỗ khai thác giảm mạnh từ 114.114 m3 năm 1991 xuống 61.185 m3 năm 1999. Số tre nứa khai thác thất thường, đạt mức 6,4 triệu cây năm 1991 và 9,2 triệu cây năm 1999

    Mục tiêu chính của ngành lâm nghiệp là đến năm 2010 sẽ có 414.410 ha rừng, trong đó rừng tự nhiên 234.410 ha, rừng trồng 180.000 ha ( riêng quế 42000 ha), Về cơ cấu rừng trồng, tăng cường trồng cây bản địa ( sấu, trám…) Rừng trồng tạp trung vào khu vực rừng phòng hộ phía tây của tỉnh, trên các địa bàn tỉnh Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Căng Chải. Đối với người trồng rừng, tỉnh sẽ tiếp tục quan tâm hơn nữa về kinh phí và tiêu thụ sản phẩm

    c) Ngư nghiệp

    Là một tỉnh có gần 21 nghìn ha mặt nước, chưa kể các sông suối lớn, nhưng tỉ trọng của ngành thuỷ sản rất nhỏ bé trong cơ cấu giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp

    Giá trị sản xuất của ngành thuỷ sản

    Yên Bái ( giá hiện hành- triệu đồng)

    Năm

    Tổng

    Chia ra

    Nuôi trồng

    Khai thác

    Dịch vụ thuỷ sản

    1991

    1302

    66

    1236

    -

    1995

    2263

    115

    2148

    -

    1999

    9759

    6435

    2471

    853

    Về cở cấu giá trị sản xuất, trưóc năm 1996, ngành khai thac thuỷ sản chiếm ưu thế tuyệt đối tông giá trị sản xuất của ngành. Từ năm 1996 đến nay, tình hiình diễn ra ngược lại. Tỉ trọng của nuôi trồng đã lấn át đánh bắt thuỷ sản

    Sản lượng thuỷ sản của Yên Bái đã tăng từ 392 tấn ( nuôi trồng 128 tấn, đánh bắt 264 tấn) năm 1995 lên 910 tấn (nuôi trồng 644 tấn và đánh bắt 266 tán) năm 1999. Các huyện có sản lượng thuỷ sản lớn nhất là Yên Bình ( 418 tấn), Văn Chấn (143 tấn), Lục Yên (131 tấn)

    3. Công nghiệp

    a) đặc điểm

    Trên con đường công nghiệp hoá và hiện đại hoá nền kinh tế, công nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đối với Yên Bái, một mặt cần tiếp tục đẩy mạnh sản xuát nông, lâm, ngư nghiệp để tạo thế ổn định về kinh tế, đời sông, mặt khác cần tập trung đầu tư phát triển một số ngành công nghiệp trọng điểm có tiềm năng và thị trường tiêu thụ.

    Hiện năy, công nghiệp ở Yên Bái còn ở vị trí rất khiêm tốn. Tỉ trọng của công nghiệp trong cơ cấu GDP chưa vượt quá 20% (năm 1999 là 19,4% kể cả xây dựng). Tốc độ tăng trưởng trung bình năm trong thời kỳ 1991 - 2000 ở mức 7,3%

    Trong  cơ câu ngành công nghiệp, công nghiệp chế biến( nhất là chế biến nông sản thực phẩm) chiếm tỉ trọng lớn nhất. Công nghiệp khai thác có tỉ trọng nhỏ. Trong ngành công nghiệp đã diễn ra sự dịch chuyển có cơ cấu tương đối rõ nét. Xu thế chung là tăng tỉ trọng của các ngành khai thác và chế biến, đồng thời giảm tỉ trọng của công nghiệp điện nước. Trong thời kì 1991 - 2000 tỉ trọng của công nghiệp khai thác tăng thêm 4,51%, công nghiệp chế biến tăng 22,81% (từ 47,3% lên 70,11%) trong khi đó công nghiệp điện nước giảm 27,32% (từ 52,3% xuống 24,98%)

    Cả tỉnh có 4448 cơ sở công nghiệp (1999), trong đó quốc doanh có 24 ( trung ương 7 và dịa phương 17), tập thể 17, tư nhân 17, cá thể 4398 và 1 cơ sở thuộc khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Nếu phân theo ngành công nghiệp thì công nghiệp chế biến có 4371 cơ sỏ, công nghiệp khai thác có 75 cơ sở và công nghiệp điện có 3 cơ sở. Trong 1 thập kỷ vừa qua đã xây dựng đựơc thêm 15 cơ sỏ chế biến chè loại nhỏ, 15 dây chuyền sản xuất giấy xuất khẩu.

    Một số sản phẩm chính của công nghiệp địa phương

     

    Sản phẩm

    1995

    1996

    1997

    1998

    1999

    xi măng ( tấn)

    19370

    28839

    44000

    48122

    51344

    Gạch (nghìn viên)

    36525

    43213

    48178

    51084

    48989

    đá thạch anh (tấn)

    3319

    800

    877

    1487

    2267

    đá fenspat (tấn)

    6194

    4936

    7017

    3809

    8272

    Xay xát lương thực (tấn)

    61886

    71188

    71147

    72552

    80116

    Chè chế biến (tấn)

    601

    1008

    2751

    8657

    8583

    Đường mật các loại ( tấn)

    937

    1625

    1723

    1658

    1721

    Gỗ xẻ cấc loại ( m3)

    1914

    3000

    3303

    4290

    4207

    đũa gỗ xuất khẩu (triệu đôi)

    86,3

    46,6

    19,9

    25,3

    36,1

    quần áo may sẵn (nghìn chiếc)

    168

    266

    277

    625

    573

    Nông cụ cầm tay (nghìn cái)

    17

    27,5

    28,4

    7,1

    13,6

    điện phát ra (triệu kWh)

    454,4

    484,4

    448,3

    380,4

    274,8

    Hoạt động công nghiệp đã thu hút được một bộ phận lao đông lớn của tỉnh. Số lao động trong ngành công nghiệp tăng từ 11090 người năm 1995 lên 14 016 người năm 1999. Trong số này ( năm 1999) lao động thuộc khu vực kinh tế trong nước có 13.973 người ( quốc doanh có 6848 người) và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có 43 người. Còn phân theo các ngành công nghiệp thì công nghiệp chế biến - 12.306 người, công nghiệp khai thác - 1.013 người và công nghiệp điện nước - 697 người

    Công nghiệp Yên Bái tuy còn nhỏ bé song đã sản xuất được một số sản phẩm phục vụ nhu cầu trong tỉnh và xuất khẩu

    b) Các ngành công nghiệp chủ yếu

    - Công nghiệp chế biến nông, lâm sản

    + Công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm

    Ngành công nghiệp này của Yên Bái bao gồm công nghiệp mía đường chế biến chè, cà phê, sắn… Quan trọng nhất là công nghiệp chế biến chè

    Một trong những thế mạnh của Yên Bái là việc trôngf và chế biến chè. Diện tích chè của tỉnh là hơn 9,5 nghìn ha (1999) và sẽ tiếp tục mở rộng trong thời gian tới. Hiện nay tổng công suất của các nhà máy chế biến mới đạt 118 tấn búp tươi/ ngày           

    Về chè đen, có 5 nhà máy với tổng công suất thiết kế 97 tấn búp/ngày. Trong số này có 4 nhà máy do ngành chè trung ương quản lý (công suất 81 tấn/ ngày) và một nhà máy của tỉnh ( 16 tấn/ ngày). Về chè xanh, có 3 cơ sở chế biến hoạt động từ năm 1993 với tổng công suất 21 tấn búp/ ngày, trong đó có một nhà máy đặt tại vùng chè Suối Giàng. Do nhu cầu của thị trường các nhà máy chè tiếp tục đựơc nâng cấp và xây mới, trong đó có cơ sở ở Phình Hồ ( Công ti chè đặc sản Nghĩa Lộ) và các cơ sở chế biến chè thành phẩm thuộc các công ti chè Trấn Yên, Bảo ái, Yên Ninh. Tổng công suất chế biến của các doanh nghiệp của tỉnh đạt 235 tấn búp/ ngày. Năm 1999, sản lượng chè chế biến của Yên Bái đạt gần 8,6 nghìn tấn chè khô

    + Công nghiệp chế biến lâm sản

    Yên Bái là tỉnh có nguồn nguyên liệu phong phú cho công nghiệp chế biến lâm sản. Ngành này bao gồm một số cơ sở sản xuất giấy đế, chế biến gỗ và chưng cất tinh dầu quế ( dự kiến sẽ xây dựng 1 nhà máy công suất 20 tấn dầu/ năm ở Văn Yên)

    - Công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản

    Yên Bái đã và đang tiến hành khai thác, chế biến một số loại khoáng sản. Đó là các cơ sở khai thác kao lanh ở Trực Bình, làng Cẩm, Tân Thịnh ( công suất 1,5 vạn tấn kao lanh nguyên khai/năm; sản lượng năm 1999 là 7466 tấn cao lanh tinh) fenxpat ở Phai Hạ ( công suất 1,5 vạn tấn), graphit ( sản lượng 3 nghìn tấn quặng nguyên khai), đá vôi trắng…

    Việc khai thác và chế biến đá quý là một lợi thế của Yên Bái. Đá quý phân bố trên diện tích khoảng 1400 km2 thuộc các huỵên Lục Yên, Yên Bình, Trấn Yên, dọc sông Chảy và tả ngạn sông Hồng. Loại hình chủ yếu là runi saphia chất lượng tốt. Đá quý khai thác được phần lớn chưa qua chế tác và thông qua Thái Lan để tới các thị trường trên thế giới. Một số mỏ chính là mỏ Tân Hương, mỏ Ngòi Chi ( Động Quan)

    - Công nghiệp vật liệu xây dựng

    Nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp này ở Yên Bái rất đa dạng ( sét, cát sỏi…) Hiện nay trên địa bàn tỉnh đã có một số cơ sở sản xuất như nhà máy xi măng lò đứng Phú Thịnh ( dự kiến sẽ có 1 cơ sở nghiền lanhke để sản xuất xi măng mác cao ở Yên Bình), các cơ sở sản xuất gạch ( sản lượng năm 1999 là gần 49 triệu viên gạch nung, 47,5 vạn viên gạch lát hoa…)

    Ngoài ra Yên Bái còn phát triển hàng loạt ngành công nghiệp khác ( sản xuất hàng tiêu dùng như may mặc, da giầy, sản xuất bia rượu và nứơc giải khát,…) cũng như các ngành tiểu thủ công nghiệp

    c) Sự phân hoá lãnh thổ công nghiệp

    Ở Yên Bái đang và sẽ hình thành 3 khu vực tập trung công nghiệp

    - Khu vực phía nam thị xã Yên Bái ( theo quyết định 30/QĐ-UB ngày 12-1-1997 của UBND tỉnh) đã và đang ra đời với hướng phát triển các ngành công nghiệp chế biến lâm sản, cơ khí chế tạo, vật liệu xây dựng…

    - Khu vực phía bắc Văn Yên (theo quyết định 577/QĐ-UB ngày 30-12-1997 của UBND tỉnh) sẽ đựơc triển khai trong tương lai. Hướng phát triển sẽ là các ngành công nghiệp mía đường, khai thác và chế biến khoáng sản, vật liệu xây dựng…

    - Khu vực Văn Chấn sẽ phát triển các ngành công nghiệp chế biến chè, vật liệu xây dựng, phân bón…

    4. Dịch vụ

    a) giao thông vận tải

    Để đàu tư cho kinh tế xã hội, trong những năm qua Yên Bái đã chú trọng đầu tư cho mạng lưới giao thông vận tải

    Về đường bộ, tổng chiều dài các loại đường hiện có trên địa bàn cuat tỉnh là 3981,46km. Mật độ trung bình đạt 0,57 km/km2

    Yên Bái có 4 tuyến quốc lộ chạy trên phạm vi 46 xã thuộc 4 huyện với tông chiều dài 369,5km. Sự phân bố hợp lý của 2 tuyến dọc là quốc lộ 70 oẻ phía đông và quốc lộ 32 ở phía tây đựơc nối với nhau bằng quốc lộ 37 ở phía nam đã tạo nên bộ khung để phát triển hệ thống đường bộ trong tỉnh. Về chất lượng, đường tốt chiếm 15% chiều dài, đường trung bình chiếm 34%. Số còn alị là đường xấu,bị xuống cấp nghiêm trọng

    Tỉnh lộ có tổng chiều dài là 229,5 km, đi qua 160 xã nối các thị trấn - huyện lị Trạm Tấu, Văn Yên, Trấn yên, Lục Yên với các quốc lộ. Đường loại tốt chỉ có 14%, loại trung bình có 9%, còn lại là loại xấu và rất xấu.

    Đường đô thị có chiều dài 78,5 km thuộc 2 thị xã ( Yên Bái, Nghĩa Lộ) chất lượng từ trung bình trở lên

    Đường chuyên dùng với chiều dài 117 km, thuộc các khu vực công nghiệp, quốc phòng, nông trường ( có 57km ô tô đi đựơc)

    Đường huyện cũng được phát triển với mật độ 0,18km/km2. Ngoài ra còn phải kể đến đường giao thông nông thôn, chủ yêú là đường đất

    Mặc dù giao thông đường bộ được chú ý phát triển nhưng đến nay vẫn còn 21 trên tổng số 180 xã chưa có đường ô tô đến trung tâm ( Trạm Tấu 6, Lục Yên 5, văn yên 3, Văn chấn 3, Mù Căng Chải 2, Trấn Yên và Yên Bình mỗi huyện 1)

    Yên Bái nằm trên tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai. Đoạn đường sắt chạy qua tỉnh gồm 10 ga nằm trên địa bàn 20 xã phường, thị trấn thuộc thị xã Yên Bái và các huyện Trấn Yên, Văn Yên dài 84km. Chất lượng đường vào loại xấu, khổ 1m tốc độ tàu chạy thấp

    Về đường thuỷ ở Yên Bái có hai tuyến chính. Tuyến sông Hồng dài 115 km, trong đó có 10 km ( Văn Phú - Yên Bái) do trung ương quản lý ; số còn lạo chưa khai thông luồng lạch. Tuyến hồ Thác Bà qua 25 xã ven hồ thuộc 2 huyện Lục Yên và Yên Bình., Nố liền các xã phía đông của hồ với quốc lộ 70, dài 80 km. Trong số này có 50km ( từ cảng Hương Lý - Thác Bà _ Cẩm nhân) do trung ương quản lyc

    Ở Yên Bái hiện nay chưa có giao thông đường hàng không. Tuy nhiên trên địa bàn của tỉnh trước đây có 3 sân bay : sân bay quân sự Yên Bái ( cách thị xã 5 km, hiện chưa sử dụng lại) sân bay nghĩa lộ ( còn mặt bằng) và sân bay Đông Cuông ( đã phá để sản xuất nông nghiệp)

    Về phương tiện vận tải tính đến 31 - 12 - 1999 cả tỉnh có 389 ô tô vận chuyển hàng hoá (trọng tải 1067 tấn), 429 ô tô chở khách ( 4400 ghế), 118 tàu thuyền máy chở hàng ( 770 tấn và 1641 mã lực), 103 tàu thuyền chở khách ( 2157 ghế và 1169 mã lực)

    Tình hình vận tải do Yên Bái quản lý thời kì 1995 - 1999

    Các loại hình và năm

    Khối lượng hàng hoá

    Khối lượng hành khách

    Vận chuyển

    (nghìn tấn)

    Luân chuyển

    (triệu tấn/km)

    Vận chuyển

    (triệu lượt người)

    Luân chuyển (triệu lượt người/km)

    Đường ô tô

     

     

     

     

    1995

    230

    4345

    511

    59.539

    1999

    595

    12.838

    1080

    79.359

    Đường sông

     

     

     

     

    1995

    152

    4236

    903

    6896

    1999

    183

    5487

    1001

    11.285

    Khối lượng vận tải của Yên Bái tăng lên rõ rệt, đặc biệt là vận chuyển hành khách

    b) thông tin liên lạc

    Mạng lưới thông tin liên lạc, bưu chính viễn thông của Yên Bái trong những năm gần đây đã có những chuyển biến rõ rệt

    Về cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành (năm 1999 đã có 1 bưu cục trung tâm, 9 bưu cục thuộc huyện, 29 bưu cục khu vực, 20 tổng đài điện thoại. 100% mạng thông tin nội bộ tỉnh đã được số hoá. Tất cả các huyện thị đã có tuyến viba và tổng đài tự động). Số máy điện thoại (cố định) tăng nhanh, từ 2592 chiếc năm 1995 lên đến 8187 chiếc năm 1999. Mật độ trung bình đạt 1,18 máy/ 100 dân

    Tuy nhiên, tính đến năm 1999 vẫn còn 69 trên tổng số 180 xã phường của tỉnh chưa được trang bị điện thoại

    c) Thương mại

    - Nội thương

    Trong thời kì đầu khi mới tách tỉnh (1991-1995), tốc độ tăng trưởng trung bình năm của ngành thương mại chỉ ở mức 4,5%. Đây là thời kì có tốc độ tằng chậm do chưa thích nghi được với cơ


    Nhắn tin cho tác giả
    Phạm Quang Hưng @ 21:20 18/08/2012
    Số lượt xem: 1194
    Số lượt thích: 1 người (Cao Thị Phuong Mai)
     
    Gửi ý kiến

    bg_mod_21jpg